Bài Viết Mới

Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế (Phúc thẩm)

Dịch vụ kế toán thuế

Số hiệu64/2009/HC-PT
Tiêu đề

Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế

Ngày ban hành09/01/2009
Cấp xét xửPhúc thẩm
Lĩnh vựcHành chính

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

______________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM           Độc  lập   –    Tự  do   –   Hạnh phúc_______________________________________________________________

 

Bản án số : 64/2009/HC-PTNgày: 09/01/2009

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán:  Bà Trương Quế Phượng.

Các Thẩm phán :                   

                                                       1. Bà Trần Thị Lệ Uyên

                                                             2. Bà Đinh Thị Ánh

Thư ký Tòa An  ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị  Hương – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

          Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:  Bà Phạm Thị Tư – Kiểm sát viên.

Ngày 02 và ngày 09 tháng 01  năm 2009  tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử phúc thẩm công khai đối với vụ án  khiếu kiện “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế”  do Tòa án nhân dân quận 12 đã xét xử sơ thẩm bằng bản án số 05/2008/HCST ngày 15/7/2008 giữa các đương sự:

Người khởi kiệnÔng Tôn Thất Lộc, sinh năm 1964

Địa chỉ  68A, tổ 6, khu phố 7, phường Tân Hưng    Thuận , quận 12, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện:

Bà Tôn Nữ Thị Trinh, sinh năm 1962.

Địa chỉ: 6A, cư xá Bà Điểm, xã Bà Điểm, huyện  Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh; theo văn bản ủy quyền lập ngày 29/01/2008, số chứng thực 16.

quyển 1 TP/CC-SCC/HĐGD của Ủy ban nhân dân    quận 12 (bút lục 132)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện:

Luật sư Trần Văn Việt – Thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị kiện:               Chi Cục Thuế Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh

Trụ sở: 27 Quốc lộ 1A, phường Tân Chánh Hiệp,   quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của người bị kịện:

1. Ông Trương Khánh Cường –  Đội phó Đội kiểm tra   thuế  quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông Nguyễn Thanh Bé – Chuyên viên Phòng Pháp chế Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh. Ông Cường và ông Bé được Chi Cục trưởng Chi cục Thuế quận 12, ủy quyền theo giấy ủy quyền số 1071/CCT ngày 15/12/2008.

(Các đương sự có mặt) ;

Nhân chứng:

1. Ông Nguyễn Thành Sơn – Tổ trưởng tổ thú y – trạm Thú y quận 12. Có mặt

Địa chỉ: 384/34 KP3, phường Tân Thới Hiệp, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông Nguyễn Huy Hoàng, vắng mặt

Địa chỉ: 91A7/5 Phạm Văn Hai, phường 13 quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

3. Bà Nguyễn Thị Phương Nhi, có mặt

Địa chỉ: 20 đường số 2, phường Hiệp Bình Chánh quận Thủ Đức, thành phố Hố Chí Minh.

4. Ông Nguyễn Bá Lực, có mặt

Địa chỉ: 453/56KH Lê Văn Sĩ, phường 12, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

5. Ông Nguyễn Vũ Trường Giang, vắng mặt

Địa chỉ: 541/109 Huỳnh Văn Bánh, phường 14 quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

6. Ông Phạm Văn Trung, vắng mặt

Địa chỉ: C12, Tân Sơn, phường 12 quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

7. Ông Vũ Đình Trúc, vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 19, khu phố 1, phường Trung Mỹ Tây, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh

8. Ông Nguyễn Văn Tú, vắng mặt

Địa chỉ: 177, khu phố 6, phường Tân Hưng Thuận, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

9. Bà Nguyễn Thị Hồng, vắng mặt

Địa chỉ: 69/5 khu phố 7, phường Tân Thới Nhất, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

10. Bà Huỳnh Thị Xuân, vắng mặt

Địa chỉ: 52/6 ấp Đông Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh

An sơ thẩm do ông Tôn Thất Lộc  kháng cáo.

NHẬN THẤY

Theo án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

          Ngày 17/12/2007, ông Lộc có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận 12, yêu cầu Tòa hủy hai quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 và quyết định số 2124/Qđ-XPHC ngày 21/11/2007 của Chi cục Thuế quận 12 ban hành vì cho rằng hai quyết định này trái pháp luật, quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 có nội dung truy thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp với với ông Lộc, số tiền truy thu tổng cộng là 413.737.537 đồng (bốn trăm mười ba triệu, bảy trăm ba mươi bảy ngàn, năm trăm ba mươi bảy đồng). Trong giai đọan Tòa án nhân dân quận 12 thụ lý giải quyết vụ án hành chính số 08/2007/TLST-HC do ông Lộc khởi kiện thì ngày 17/3/2008 Chi cục Thuế quận 12 ban hành quyết định số 2331 sửa đổi điều 1 của quyết định 2124/QĐ-XPHC, bỏ hình phạt chính là chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xử lý hành vi của ông Lộc, thay bằng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra là truy thu thuế ẩn lậu với số tiền đã nêu tại quyết định 2124 là 413.737.537 đồng (bốn trăm mười ba triệu, bảy trăm ba mươi bảy ngàn, năm trăm ba mươi bảy đồng), các phần còn lại vẫn giữ nguyên.

Ngày 24/3/2008, ông Lộc khiếu nại quyết định 2331/QĐ-CCT ngày 17/3/2008 và Chi cục Thuế quận 12 đã có văn bản số 244/CCT ngày 07/4/2008 từ chối giải quyết khiếu nại của ông Lộc. Ngày 02/5/2008  ông Lộc đã khởi kiện quyết định 2331 tại Tòa án quận 12,  được Tòa án quận 12  thụ lý giải quyết theo số thụ lý 05/2008/TLST-HC ngày 02/5/2008. Đồng thời ngày 18/6/2008 ông Lộc cũng có yêu cầu đề nghị Tòa xét hủy quyết định 2331 trong cùng vụ án thụ lý số 08/2007/TLST-HC ngày 17/12/2007  do đó Tòa án quận 12 đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án hành chính số 01/2008/QĐ-TĐCngày 20/6/2008 về việc xét quyết định số 2331 tại vụ án hành chính thụ lý số05/2008/TLST-HC ngày 02/5/2008 và xem xét yêu cầu bổ sung  ông Lộc về việc  yêu cầu hủy quyết định 2331 trong cùng vụ án thụ lý số 08/2007/TLST-HC ngày 17/12/2007.

          Chi cục Thuế quận 12 xác định quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007,  quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2007, quyết định số 2331/QĐ-CCT ngày 17/3/2008 được ban hành là đúng pháp luật.

          Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 12 đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông Tôn Thất Lộc, giữ nguyên các quyết định của Chi cục Thuế quận 12 đã ban hành.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số: 05/2008/HCST ngày 15 tháng 7 năm 2008 Toà án nhân dân quận 12  đã quyết định: Căn cứ

Luật Thuế Giá trị gia tăng;

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

Điều 46 luật Khiếu nại, tố cáo;

Điều 2, khoản 10 Điều 11, Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;

Nghị định 100/2004/NĐ-CP ngày 25/02/2004 của Chính phủ;

Nghị  định 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ;

Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính Phủ quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Xử:

1. Bác  yêu  cầu khởi kiện  của  ông Tôn Thất Lộc về việc yêu cầu Tòa tuyên hủy các quyết định sau đây của Chi cục Thuế quận 12:

– Quyết định 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007;

– Quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2007;

– Quyết định 2331/CCT ngày 17/3/2008

2. An phí hành chính sơ thẩm 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng)ông Tôn Thất Lộc phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm ông Lộc đã nộp là 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu  số 007643 ngày 17/12/2007  của Thi hành án dân sự quận 12

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 17/7/2008 ông Tôn Thất Lộc có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; Lý do kháng cáo như sau:

– Ông Lộc cho rằng quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 của Chi cục thuế quận 12 truy thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp , buộc ông phải nộp số tiền tổng cộng 413.737.537 đồng (bốn trăm mười ba triệu, bảy trăm ba mươi bảy ngàn, năm trăm ba mươi bảy đồng) là không đúng do ông không trực tiếp kinh doanh giết mổ heo mà ông chỉ cho thuê mặt bằng để các cá nhân, các hộ tự giết mổ. Số tiền ông  cho thuê  mặt bằng hàng tháng trước đây là 22.500.000 đồng, sau tăng lên là 24.000.000 đồng. Do đó ông Lộc cho rằng ông không có hành vi kinh doanh như Quyết định nêu nên ông không phải chịu khoản tiền thuế này.

– Hàng tháng ông đều nộp đủ khoản tiền thuế cho Nhà nước theo như thông báo của cơ quan Thuế, hình thức nộp thuế của ông là “thuế ổn định” tức là “thuế khóan”;

– Quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 của Chi cục Thếu quận 12 là quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng không được lập đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định, trước khi ban hành quyết định chi cục Thuế quận 12 không lập  biên bản vi phạm hành chính, ngoài ra ông Lộc cho rằng quyết định số 2124 và 2331 do Chi cục Thuế quận 12 ban hành chỉ nhằm mục đích sửa chữa bổ sung cho quyết định 1826.

Từ những lý do trên ông Lộc yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bà Tôn Nữ Thị Trinh đại diện cho ông Tôn Thất Lộc trình bày yêu cầu kháng cáo như sau:

1. Về nội dung kháng cáo – Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của ông Tôn Thất Lộc (như đơn kháng cáo)  cụ thể như sau:

Yêu cầu hủy các quyết định do Chi cục Thuế quận 12 đã ban hành gồm:

– Quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007;

– Quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2008;

– Quyết định 2331/CCT ngày 17/3/2008.

2. Về căn cứ kháng cáo:  Bà Trinh cho rằng ba quyết định nói trên được Chi cục Thuế quận 12 ban hành trái pháp luật do:

– Không có biên bản vi phạm hành chính để làm căn cứ ban hành quyết định số 1826/QĐ-XPHC  ngày 23/10/2007;

– Ông Tôn Thất Lộc không có hành vi vi phạm như Quyết định số 1826 xác định, ông Lộc không có trực tiếp  kinh doanh giết mổ heo nên không có thu nhập từ kinh doanh (ẩn lậu), ông Lộc chỉ cho các cá nhân và các hộ thuê mặt bằng để các cá nhân và các hộ tự giết mổ heo,  việc ông Lộc cho thuê có đầy đủ tài liệu,  chứng cứ để xác định thông qua các bản hợp đồng, bản khai của các cá nhân, hộ thuê mặt bằng thừa nhận và qua bản xác nhận của tổ thú y thuộc tram thú y quận 12;

– Hàng tháng ông Lộc đều nộp đủ số tiền thuế do cơ quan Thuế  thông báo nộp, mức thuế được xác định bằng hình thức thuế “ổn định” “thuế  khóan”, mức thuế này do cơ quan thuế xác định từ 3 đến 6 tháng; bà Trinh cho rằng khi bà kê khai thuế bà đều có trình bày cho cán bộ thuế biết rỏ việc ông Lộc không kinh doanh giết mổ heo mà chỉ cho các hộ, các cá nhân thuê lại ô chuồng để thực hiện việc giết mổ ( do trước đây tình hình giết mổ gia súc ở quận 12 còn rời rạc, không quản lý được, nên theo chủ trương chung và được địa phương gợi ý do ông Lộc có mặt bằng nên ông Lộc đã xây dựng thành các ô chuồng để việc giết mổ được tập họp lại, nhà nước sẽ quản lý, kiểm sóat việc giết mổ có hiệu quả hơn), bà Trinh trình bày khi kê khai thuế là do cán bộ thuế hướng dẫn, mức tính thuế được tính “ổn định” trên doanh thu cho thuê ô, chồng, việc Chi cục thuế quận 12 cho rằng ông Lộc có hành vi không kê khai thực tế về họat động của ông Lộc là không đúng, vì việc ông Lộc cho thuê ô, chuồng tất cả mọi người đều biết, tổ thú ý hàng ngày đều có mặt và quản lý lượng heo giết mổ của các cá nhân, các hộ , bà Trinh cho rằng từ trước đến nay nếu như cán bộ thuế yêu cầu các cá nhân, các hộ phải chịu khoản tiền thuế này thì  ông Lộc sẽ thông báo cho các cá nhân này biết để họ thực hiện cũng như từ trước đến nay những cá nhân, hộ giết mổ là người trực tiếp nộp khoản tiền phí, lệ phí cho tổ thú y. Do đó bà Trinh yêu cầu Tòa xem xét việc Chi cục thuế quận 12 buộc ông Lộc phải nộp khoản thuế truy thu là không phù hợp pháp luật.

Đại diện của người bị kiện (Chi cục Thuế Quận 12) trình bày:

Yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm vì các hành vi của Chi cục Thuế quận 12  đã thực hiện để “áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế” đối với trường hợp vi phạm của ông Tôn Thất Lộc là có căn cứ đúng với hành vi vi phạm của ông Lộc,  đúng với trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định. Cụ thể đại diện cho người bị kiện xác định:

–  Các Quyết định số 1826/QĐ-XPHC, Quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2008;  Quyết định 2331/CCT ngày 17/3/2008 do Cục Thuế quận 12 ban hành ngày 23/10/2007 có nội dung truy thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập kinh doanh “ẩn lậu”  của ông Tôn Thất Lộc, đây không phải là quyết định hành chính xử phạt vi phạm hành chính do đó theo quy định của pháp luật trong trường hợp này thì Chi cục Thuế quận 12 không phải lập biên bản vi phạm hành chính;

– Căn cứ theo luật Thuế Giá trị gia tăng và Thuế thu nhập doanh nghiệp, biểu thuế suất và đối chiếu với số lượng heo được giết mổ do Trạm Thu y quận 12 xác định. Từ đó khoản tiền truy thu thuế chi cục Thuế quận 12 xử lý  buộc ông Lộc phải truy nộp là có căn cứ đúng pháp luật;

– Đại diện cho người bị kiện trình bày, tuy ông Lộc không thừa nhận ông trực tiếp giết mổ heo, và các cá nhân, các hộ thuê ô chuồng của ông Lộc có lời khai xác định thừa nhận việc ông Lộc cho thuê ô, chuồng là có thực,  và mặc dù  số phí, lệ phí giết mổ nộp cho Trạm Thú y  quận 12 khi thực hiện việc giết mổ heo có lúc do ông Lộc trực tiếp nộp, có lúc do các cá nhân, các hộ giết mổ trực tiếp nộp và trạm thú y quận 12 đã có văn bản, có lời khai tại Tòa xác định  thừa nhận việc nhờ ông Lộc thu dùm khoản tiền này cho trạm thú y tuy nhiên quan hệ này cơ quan thuế không biết do ông Lộc không có thông báo với cơ quan thuế, do đó theo theo giấy phép kinh doanh do  ông Lộc đứng tên   nên cơ quan thuế xác định ông Lộc có hành vi kinh doanh giết mổ heo nên ông Lộc phải nộp khoản tiền thuế này.

– Việc ông Lộc nộp thuế hàng tháng theo hình thức “thuế ổn định” là đúng, mặc dù các văn bản pháp luật do Tổng cục thuế ban hành thì cơ quan thuế có trách nhiệm khảo sát, kiểm tra trước khi ấn định mức thuế “ổn định” , đây là thiếu sót của cơ quan thuế. Tuy nhiên mức kê khai thuế là do ông Lộc tự kê khai – tự chịu trách nhiệm, do đó khi xác định được khoản doanh thu thực tế phát sinh  từ họat động kinh doanh giết mổ của ông Lộc có chênh lệch so với khoản doanh thu nhập đã kê khai nộp thuế thì ông Lộc phải chịu trách nhiệm để nộp lại cho đúng theo quy định.

 Đại diện cho ngưới bị kiện yêu cầu Tòa bác kháng cáo của ông Tôn Thất Lộc.

Kiểm sát viên nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Đơn kháng cáo của ông Tôn Thất Lộc làm trong thời hạn luật định hợp lệ.

          Về nội dung kháng cáo  của ông Lộc (theo đơn kháng cáo) và qua trình bày tại phiên Tòa phúc thẩm. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

          Xét  thấy qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, ông Tôn Thất Lộc  đựơc Ủy ban nhân dân quận 12 cấp giấy phép kinh doanh hành nghề “giết mổ gia súc” và cơ sở giết mổ do ông Lộc đăng ký có tên gọi là “cơ sở giết mổ trung tâm”. Ông Lộc khởi kiện và kháng cáo yêu cầu hủy các quyết định do Chi cục Thuế quận 12 ban hành có nội dung buộc ông Lộc phải truy nộp khoản tiền thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh thu “ẩn lậu” là không có căn cứ, việc ông Lộc cho rằng ông không có hành vi giết mổ gia súc và chỉ cho các hộ, các cá nhân thuê mặt bằng, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

Căn cứ vào các tài liệu thể hiện trong hồ sơ  và qua lời khai của các nhân chứng tại phiên tòa, bản xác nhận và lời khai của đại diện Trạm Thú y quận 12 tại phiên Tòa, có căn cứ xác định  việc ông Lộc không thực hiện việc giết mổ heo và cho thuê ô, chuồng là có thực nhưng đây là quan hệ giữa cá nhân ông Lộc và các  cá nhân, các hộ thuê, quan hệ này ông Lộc không báo cáo với cơ quan thuế, ông Lộc cho rằng có báo cáo nhưng không có tài liệu nào chứng minh, do gia súc được giết mổ từ cơ sở kinh doanh của ông Lộc, mặc dù Trạm thú y nhờ ông Lộc thu hộ được trạm xác nhận,  nhưng ông Lộc là người trực tiếp nộp khoản phí thú y này và do gia súc được giết mổ từ cơ sở kinh doanh của ông Lộc do đó việc Chi cục Thuế quận 12 buộc ông Lộc phải nộp khoản thuế từ doanh thu “ẩn lậu” là cần thiết.

Từ những nhận xét trên,  án sơ thẩm tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Tôn Thất Lộc là có căn cứ, kháng cáo của  ông Lộc là không  có  cơ sở để chấp nhận. Do đó đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xử theo hướng –  Bác kháng cáo của ông Tôn Thất Lộc – Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm– Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lộc về việc  Hủy  các quyết định do Chi cục Thuế quận 12 đã ban hành gồm: Quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007;  Quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2008;  Quyết định 2331/CCT ngày 17/3/2008.

                                                XÉT THẤY

  Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết qủa tranh luận , ý kiến phát biểu về vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

          1. Về hình thức đơn kháng cáo:

Xét bản án hành chính sơ thẩm số 05/2008/HC-ST được Tòa án nhân dân quận 12 tuyên xử ngày 15/7/2008. Ngày 17/7/2008 ông Tôn Thất Lộc có đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của  ông Lộc làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 56 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung năm  2006).

2. Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hiệu khởi kiện:

Căn cứ vào đơn khởi kiện vụ án hành chính của ông Tôn Thất Lộc có nội dung “yêu cầu hủy quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 , quyết định 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2007 của Cục Thuế quận 12 và Quyết định 2331/QĐ-CCT ngày 17/3/2008 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận 12”.

Xét :

– Quyết định số 1826 là quyết định hành chính xử phạt vi phạm pháp luật về thuế có nội dung “áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế” ;

– Quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2007 của Cục Thuế quận 12 ban hành  tại Điều 1 có nội dung “ sửa 1 phần căn cứ được nêu tại Quyết định 1826”;

–  Quyết định 2331/CCT ngày 17/3/2008 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận 12  có nội dung “sửa đổi một số nội dung của Quyết định 1826 và quyết định 2124, nội dung được sửa là Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm pháp luật về thuế gây ra trong trường hợp không áp dụng xử phạt”.

Xét  3 Quyết định hành chính của Chi cục Thuế quận 12 nói trên  được ban hành vào ba thời điểm khác nhau (ngày 23/10/2007, ngày 21/11/2007 và ngày 17/3/ 2008 )  hai quyết định sau  được ban hành sau khi ông Tôn Thất Lộc có đơn khiếu nại, và có nội dung  điều chỉnh, sửa chữa bổ sung  về phần tiêu đề quyết định, về căn cứ pháp luật được áp dụng , về thay đổi hình thức phạt chính đối với quyết định hành chính lần đầu số 1826/QĐ-XPHC ngày 13/10/2007. Cả ba quyết định này tại phần nội dung quyết định đều thể hiện  hình thức “áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế” đối với ông Tôn Thất Lộc – do đó các quyết định Chi cục Thuế quận 12 đã ban hành là lọai việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 10 Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006;

Căn cứ vào Quyết định giải quyết khiếu nại số  2310/QĐ/GQKN/CCT ngày 05/12/2007 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận 12 có nội dung  “  không công nhận nội dung đơn khiếu nại ngày 25/10/2007  của ông Tôn Thất Lộc – Giữ nguyên quyết định 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 và quyết định 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2007 của Chi cục Thuế quận 12”

Quyết định giải quyết khiếu nại đã được Chi cuc trưởng  Chi cục Thuế quận 12 ban hành theo trình tự, thủ tục do Luật khiếu nại, tố cáo quy định, đây là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với khiếu nại của ông Tôn Thất Lộc.  Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại, ngày 17/12/2007  ông Lộc đã nộp đơn  khởi kiện yêu cầu hủy hai quyết định 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 và quyết định 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2007 của Chi cục Thuế quận 12 đã ban hành là có căn cứ  đúng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2, khoản 10 Điều 11,  điểm c khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;

– Đối với quyết định số 2331/CCT ngày 17/3/2008 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận 12 ban hành sau khi ông Lộc có đơn khiếu nại đối với quyết định 1816 và 2124 , sau khi nhận được quyết định này ,  ông Tôn Thất Lộc đã khiếu nại theo quy định của luật Khiếu nại, Tố cáo và   do Chi cục Thuế quận 12 đã có văn bản số 244/CCT ngày 07/4/2008 từ chối giải quyết khiếu nại của ông Lộc . Ngày 02/5/2008  ông Lộc đã khởi kiện quyết định 2331 tại Tòa án quận 12 và đã  được Tòa án quận 12  chấp nhận thụ lý đơn kiện tuy nhiên do quyết định số 2331 chỉ thay đổi  phần “ tiêu đề của quyết định” và phần nội dung quyết định “ không áp dụng hình phạt chính đối với ông Tôn Thất Lộc, chỉ còn nội dung áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế vẫn giữ nguyên do đó căn cứ vào yêu cầu bổ sung của ông Tôn Thất Lộc ngày  18/6/2008 , Tòa án quận 12 đã  xem xét cả quyết định số 2331  trong cùng vụ án thụ lý số 08/2007/TLST-HC ngày 17/12/2007 là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật..

Từ những nhận xét trên – Xét thấy Tòa án nhân dân quận 12  thụ lý giải quyết đơn kiện của ông Lộc là có căn cứ đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, thời hiệu, trình tự, thủ tục khởi kiện đã được quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;

3.Về nội dung kháng cáo:

– Xét Quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 của Chi cục Thuế quận 12 ban hành tuy quyết định có viện dẫn pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính  năm 2002 và có tiêu đề “ Quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về Thuế”, tại phần quyết định có nội dung “ áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế” . Xét tại phiên Tòa,  đại diện cho người bị kiện trình bày  một trong các căn cứ để Chi cục Thuế quận 12 ban hành quyết định 1826/QĐ-XPHC là biên bản kiểm tra được lập để ghi nhận đối với sai phạm diễn ra tại Trung tâm giết mổ gia súc quận 12 , mặc dù biên bản này ông Lộc không ký tên nhưng đã được Đoàn kiểm tra lập theo đúng trình tự pháp luật quy định, có người chứng kiến ký tên do đó  xét việc ông Tôn Thất Lộc khởi kiện và kháng cáo cho rằng Cục Thuế quận 12 ban hành quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 trái pháp luật do vi phạm về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính khi không lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 55 Pháp lệnh là không có căn cứ.

–  Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể số 729/TM-DV/HKD do Ủy ban nhân dân quận 12 cấp ngày 21/7/2000 có căn cứ xác định  ông Tôn Thất Lộc là người đứng tên đăng ký kinh doanh đối với  “ Cơ sở giết mổ gia súc trung tâm” được đặt tại địa chỉ số 241/2 khu phố 2, phường Tân Thới Hiệp, quận 12, ngành nghề kinh doanh theo Giấy chứng nhận là: Giết mổ heo;

– Căn  cứ vào Quyết định số 1514/QĐ-CCT ngày 19/9/2007 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận 12 về việc kiểm tra tình hình giết mổ gia súc năm 2007 tại Cơ sở giết mổ gia súc trung tâm;  và căn cứ vào biên bản xác minh do Chi cục Thuế quận 12 lập ngày 24/9/2007 và ngày 25/9/2007 tại Trạm Thú y quận 12 xác định số lượng heo được giết mổ tại cơ sở gia súc trung tâm như sau:

·                                 Từ ngày 01/01/2006 – 31/12/2006 là 178.539 con heo;

·                                 Từ ngày 01/01/2007 – 19/ 9/2007 là 183.412 con heo;

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, qua lời khai, trình bày của đại diện ông Tôn Thất Lộc, đại diện của người bị kiện tại phiên Tòa phúc thẩm cho thấy ông Tôn Thất Lộc không có yêu cầu kháng cáo, tranh chấp về số lượng heo đã giết mổ tại Trung tâm giết mổ gia súc quận 12 đã được Chi cục thuế quận 12 xác định. Do đó có căn cứ kết luận xác định  số luợng heo đã giết mổ tại cơ sở nói trên  là đúng thực tế.

Xét qua tranh luận của các đương sự tại  phiên  Tòa phúc thẩm giữa đại diện cho ông Tôn Thất Lộc (người khởi kiện) và đại  diện cho  Chi cục Thuế quận 12 (người bị kiện) . Để xem xét yêu cầu kháng cáo của ông Tôn Thất Lộc cần phải xem xét đánh giá hành vi vi phạm pháp luật về thuế của ông Tôn Thất Lộc đối với  “doanh thu thực tế phát sinh từ lượng heo giết mổ ” và nghĩa vụ nộp thuế đối với “ khoản doanh thu này”;

Tại phiên Tòa , đại diện ông Tôn Thất Lộc cho rằng việc ông Lộc cho thuê ô, chuồng để các cá nhân và các hộ thuê tự giết  mổ  đều được ông Lộc báo cáo với cán bộ phụ trách thuế. Lời khai này của ông Lộc phía người bị kiện không thừa nhận, tuy nhiên sau khi xem xét các tài liệu do ông Lộc xuất trình gồm các bản hợp đồng cho thuê ô, chuồng, lời khai của các cá nhân (thuê ô, chuồng), bản xác nhận của ông Nguyễn Thành Sơn (trạm thú y quận 12 – phụ trách kiểm soát thú y  của cơ sở giết mổ gia súc  Trung tâm) có cơ sở để xác định việc ông Tôn Thất Lộc cho thuê ô, chuồng và doanh thu thực tế của ông Lộc  thu về hàng tháng được  phát sinh từ họat động cho thuê ô, chuồng là có thực, việc ông Lộc cho thuê ô, chuồng đã được hình thành và diễn ra 1 thời gian dài  kể tư khi bắt đầu  kinh doanh vào năm 2000   cho đến khi kiểm tra xử lý năm  2007. Theo các  tài liệu chứng cứ trong hồ sơ cho thấy ông Tôn Thất Lộc không có biểu hiện gian dối khi kê khai đối với khoản doanh thu của ông nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế.

Từ những phân tích trên xét thấy tuy rằng Chi cục thuế quận 12 đã kiểm tra, xác minh và đã chứng minh đúng lượng heo giết mổ tại cơ sở giết mổ Trung tâm do ông Tôn Thất Lộc đứng tên đăng ký kinh doanh tuy nhiên việc  Chi cục Thuế quận 12 căn cứ lượng heo giết mổ thực tế để từ đó Chi cục Thuế quận 12 xác định ông Tôn Thất Lộc đã có hành vi kê khai không đúng thu nhập  và đã không kê khai khoản “ doanh thu ẩn lậu” là không phù hợp với tài liệu, chứng cứ khách quan đã được thu thập trong hồ sơ, bởi lẽ có căn cứ để xác định  tuy lượng heo giết mổ thực tế có chênh lệch so với lượng heo kê khai  chịu thuế của ông Lộc, nhưng doanh thu hàng tháng của ông Lộc không phát sinh,  không được tăng lên từ lượng heo giết mổ chênh lệch này.

Căn cứ Quyết định 1201/TCT/QĐ/TCCB ngày 26/7/2004 của Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể (có hiệu lực từ ngày 01/10/2004). Tại  phần B, mục I có quy định như sau:

I/ Đối với hộ ổn định thuế:

a.1 Hướng dẫn hộ kinh doanh kê khai doanh thu kinh doanh, nhận tờ khai.

b.1 Điều tra doanh thu thực tế:

Đội thuế chọn ra một số  hộ kinh doanh đại diện cho các ngành, nghề, quy mô kinh doanh để điều tra điển hình làm căn cứ đánh gía tính chính xác của các tờ khai do hộ kinh doanh tự kê khai và làm căn cứ để hiệp thương với hộ kinh doanh kê khai doanh thu không đúng hoặc ấn định thuế đối với những hộ kinh doanh không kê khai, không nộp tờ khai.

Kết quả điều tra doanh thu thực tế phải được lập thành biên bản có ký xác nhận giữa Đòan kiểm tra và chủ hộ kinh doanh. Nếu chủ hộ kinh doanh không ký thì phải có xác nhận của các thành viên Đòan kiểm tra và người chứng kiến (nếu có).

Kết quả điều tra doanh thu thực tế phải được phản ảnh theo mẫu 04/HKD.

c.1 Dự kiến doanh thu tính thuế của từng hộ kinh doanh:

– Căn cứ vào tờ khai doanh thu của hộ kinh doanh, căn cứ vào kết quả điều tra doanh thu thực tế. Đội thuế lập danh sách hộ kinh doanh, dự kiến doanh thu của từng hộ kinh doanh theo mẫu số 05/HKD đưa ra trao đổi thống nhất trong Đội thuế.

– Đội thuế phải niêm yết công khai doanh thu dự kiến đã thống nhất của từng hộtại địa điểm thích hợp  Trụ sở UBND phường, xã. Trụ sở Đội thuế) và thông báo công khai địa điểm niêm yết để hộ kinh doanh biết và tham gia ý kiến, thời gian niêm yết công khai chậm nhất hết ngày 30 của tháng cuối kỳ ổn định hoặc ngày 25 của tháng bắt đầu kinh doanh. Trong thời gian niêm yết công khai, Đội thuế cử cán bộ tiếp xúc và giải thích những thắc mắc của hộ kinh doanh. Sau khi đã công khai, căn cứ ý kiến đóng góp của đại diện  hộ kinh doanh Đội thuế điều chỉnh lại những trường hợp bất hợp lý  nếu thấy cần thiết.

– Doanh thu dự kiến của từng hộ kinh doanh sau khi điều chỉnh (nếu có) Đội Thuế chuyển Hội Đồng tư vấn Thuế tham gia và có ý kiến xác nhận. Trường hợp Hội đồng tư vấn thuế không thống nhất theo Đội thuế giải trình, nếu Hội đồng tư vấn thuế không chấp thuận thì Đội thuế tập hợp báo cáo lãnh đạo Chi cục Thuế quyết định.

– Sau khi thực hiện các bước nêu trên Đội thuế tổng hợp kết quả doanh thu dự kiến báo cáo Chi cục Thuế để làm căn cứ tính thuế.

– Trường hợp trong thời gian ổn định thuế nếu có sự biến động tăng hoặc giảm từ 25% về doanh thu kinh doanh so với doanh thu đã khóan ổn định do mở rộng thêm kinh doanh, bổ sung mặt hàng, ngành nghề kinh doanh, hay do giá cả tăng (giảm) đột biến thì Đội thuế yêu cầu hộ kinh doanh kê khai lại doanh thu kinh doanh với cơ quan thuế. Đội thuế căn cứ vào tình hình thực tế họat động  kinh doanh và kê khai của hộ để ấn định lại doanh thu tính thuế”

Xét tại phiên Tòa đại diện Chi cục Thuế quận 12 đã xác định lọai hình thuế được cơ quan Thuế áp dụng đối với ông Tôn Thất Lộc là “ thuế ổn  định 6 tháng”.  Xác nhận này của Chi cục Thuế quận 12 phù hợp với lời khai của ông Tôn Thất Lộc và phù hợp với đề xuất của Đội quản lý thuế đã được lãnh đạo Chi cục Thuế quận 12 chấp thuận  ( phù hợp với điểm c.1 viện dẫn trên ) Tính đến thời điểm ban hành quyết định 1826 thì lọai hình thuế này vẫn được duy trì, áp dụng và ông Tôn Thất Lộc đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế. Căn cứ vào quyết định 1201/TCT/QĐ/TCCB ngày 26/7/2004 của Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể thì quan hệ xác lập thuế giữa ông Tôn Thất Lộc và cơ quan Thuế được căn cứ theo điểm  a, b, c mục I phần B (  trích dẫn trên) .

Xét việc người bị kiện cho rằng ông Tôn Thất Lộc đã tự kê khai và phải chịu trách nhiệm về kê khai của mình. Tuy nhiên theo trình bày của Trạm Thú y quận 12 thì  “việc giết mổ tại trung tâm đều được Trạm Thú y theo dõi, quản lý hàng ngày từ số lượng heo giết mổ  nhập về và lượng heo đưa ra thị trường tiêu thụ” do đó trong trường hợp này quyền và nghĩa vụ của người kê khai và của cơ quan Thuế thực hiện theo theo điểm  a, b, c mục I phần B của  quyết định 1201/TCT/QĐ/TCCB ngày 26/7/2004 là hòan tòan thuận lợi.

Căn cứ Điều 1 luật Thuế thu nhập doanh nghiệp  được Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17/6/2003 (được Chủ tịch nước công bố theo Lệnh số 18/2003/L-CTN ngày 26/6/2003) quy định :

“ Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Tổ chức, cá nhân sản xuất , kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (dưới đây gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu nhập đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ đối tượng được quy định tại Điều 2  của luật này”.

Từ những nhận xét trên; Xét thấy  có căn cứ xác định ông Tôn Thất Lộc không có hành vi “giết mổ”, ông Lộc không có  khoản “ thu  nhập” từ  hành vi này  là có thực;

Xét tại phiên Tòa , qua trình bày của  các hộ, các cá nhân có thuê ô, chuồng của ông Tôn Thất Lộc  cũng như của đại diện Tổ thú y quận 12 thì đại diện người bị kiện cho rằng mặc dù ông Lộc cho thuê ô chuồng có thể là thực nhưng do ông Lộc đứng tên đăng ký kinh doanh nên ông phải chịu trách nhiệm ,  tuy nhiên khi  xử lý vụ việc thì Chi cục thuế quận 12 lại buộc ông Lộc phải chịu trách nhiệm về hành vi ông không kê khai đối với khỏan “doanh thu ẩn lậu”  là không đúng với tính chất sai phạm, với tài liệu chứng cứ đã phản ánh trong hồ sơ. Việc  Chi cục thuế quận 12 ban hành buộc ông Lộc phải nộp bổ sung khoản thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập  doanh nghiệp đối với khoản doanh thu “ ẩn lậu ”  là không có căn cứ ,  kháng cáo của ông Tôn Thất Lộc  là có cơ sở nên được chấp nhận sửa án sơ thẩm;

Do kháng cáo được chấp nhận ông Tôn Thất Lộc không phải chịu án phí phúc thẩm, án phí sơ thẩm do người bị kiện chịu;

Căn cứ Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 64 Pháp lệnh Thủ tục Giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006);

Căn cứ Điều 27, khoản 2 Điều 30 Nghị định Chính phủ số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình thức:

Đơn kháng cáo của  của  ông Tôn Thất Lộc làm trong thời hạn hợp lệ.

2. Về nội dung:  Chấp nhận  kháng cáo của ông Tôn Thất Lộc.  Sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm .

Tuyên Xử: 

Chấp nhận  yêu cầu của  khởi kiện của ông Tôn Thất Lộc về việc hủy các Quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2008, Quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2008;  Quyết định 2331/CCT ngày 17/3/2008 do Chi  Cục Thuế quận 12 ban hành.

3. Về án phí:

Ông Tôn Thất Lộc không phải chịu án phí phúc  thẩm được trả lại   tiền tạm ứng  án phí phúc thẩm tạm nộp là 50.000 (năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 008272, quyển 0166 ngày 17/7/2008  của Thi hành án Dân sự quận 12.

Chi cục Thuế  quận 12 phải chịu án phí sơ thẩm là 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng). Trả lại cho ông Tôn Thất Lộc tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) theo biên lại thu tiền số 007643  ngày 17/12/2007  của Thi hành án Dân sự quận 12.

Bản án phúc thẩm  có hiệu lực pháp luật  kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:                                                                       TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

– Tòa án nhân dân tối cao;                                        THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

– Viện kiểm sát nhân dân Tp;

– Tòa án nhân dân quận 12;

– Thi hành án dân sự quận 12;

– Các đương sự (để thi hành);

– Lưu.

                                                                                                    Trương Quế Phượng