Khởi kiện “quyết định hành chính trong việc áp dụng thuế, truy thu thuế…”

Dịch vụ kế toán thuế

Số hiệu1682/2008/HC-ST
Tiêu đềKhởi  kiện “quyết định hành chính trong việc áp dụng thuế, truy thu thuế…”
Ngày ban hành06/10/2008
Cấp xét sửSơ thẩm
Lĩnh vựcHành chính

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM   Độc  lập   –    Tự  do   –   Hạnh phúc
Bản án số: 1682/2008/HC-STNgày       :   06/ 10/2008Thụ lý số:  13/2008/TLST-HC

Ngày       : 10/7/2008.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Trương Quế Phượng

Các Hội Thẩm Nhân Dân:       1. Ông Phạm Công Nhân

                                                   2. Bà Đặng Kim Dung

Thư ký Tòa An  ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị  Hương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia   phiên tòa:  BàNguyễn Thị Tiểu Hồng  – Kiểm sát viên

Trong các ngày  29 tháng 9 và 06 tháng 10 năm 2008 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án  khởi  kiện “quyết định hành chính trong việc áp dụng thuế, truy thu thuế..” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số  1649/2008/QĐST-HC  ngày 12/9/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh  giữa các đương sự:

Người khởi kiệnCông ty TNHH Kỹ thuật & Tin học T.H.M.S

        Địa chỉ: 87 Phù Đổng Thiên Vương, phường 11, quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh.

        Người đại diện cho người khởi kiện:

        Ông Lương Khải Ân, sinh năm 1975,

        Địa chỉ thường trú 18/5/1 Lê Văn Thọ, phường 11

        quận Gò Vấp – theo giấy ủy quyền số 06/2008/GUQ

        ngày 12/6/2008 của Giám đốc Công ty.

       Người bị kiệnCục Kiểm tra sau thông quan–Tổng cục Hải quan

                             Địa chỉ: 92 Võ thị Sáu , quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Văn phòng phía Nam: 15B Thi Sách, phường Bến

Nghé, quận 1 thành phố Hồ Chí Minh.

   Đại diện  theo ủy quyền của người bị kiện:Ông Trần Kế Thắng, chức vụ Phó Trưởng phòng  Nghiệp vụ 5, Cục Kiểm tra sau thông quan. Giấy ủy quyền số 193/KTSTQ -KHTH ngày 08/8/2008 của Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan (Các đương sự có mặt).

NHẬN THẤY

          Theo đơn khởi kiện ngày 12/6/2008 người khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật và Tin học T.H.M.S do ông Lương Khải Ân đại diện trình bày yêu cầu  và căn cứ pháp lý khởi kiện “ quyết định hành chính số 003ngày 31/3/2008  của Cục Kiểm tra sau thông quan, Tổng cục Hải quan” như sau:

          Công ty trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật & Tin học THMS là đơn vị chuyên họat động sản xuất kinh doanh cân xe tải theo Giấy phép thành lập số 4102003499 do Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/01/2001.

Từ năm 2003 cho đến nay Công ty đã nhiều lần  nhập khẩu về Việt Nam lô hàng thiết bị thử độ nén bê tông và cân xe tải với mã số thuế hàng hóa nhập khẩu là 9204, thuế suất là 0%, thuế  Giá trị gia tăng là 5%. Đến tháng 7/ 2007 Cục Kiểm tra sau thông quan , Tổng cục Hải quan yêu cầu điều chỉnh lại tên hàng hóa nhập khẩu là thiết bị sản xuất cân hoặc phụ tùng cân mã số hàng hóa là 8423 với mức thuế suất từ  15% – 30% và thuế Giá trị gia tăng là 5%.

Qua nhiều lần làm việc với Cục Kiểm tra sau thông quan đến ngày 31/3/2008 Cục Kiểm tra sau thông quan có quyết định số 003 với nội dung “truy thu thuế đối với Công ty là 617.537.341 đồng”. Không đồng ý nên Công ty đã khiếu nại theo quy định của pháp luật và ngày 26/5/2008  Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 007/QĐ-KTSTQ với nội dung “ Giữ nguyên nội dung của Quyết định số 003 ngày 31/3/2008”.

Không đồng ý với quyết định  giải quyết khiếu nại do đó  Công ty đã khởi kiện ra Tòa –Yêu cầu hủy quyết định số 003/QĐ-KTSTQ và Quyết định 007/QĐ-KTSTQ  nói trên vì hai quyết định ban hành không có căn cứ và đã làm thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của công ty;

          Ông Lương Khải Ân trình bày  các căn cứ  khởi kiện  như sau:

          1. Công ty không có hành vi gian dối khi kê khai mã hàng nhập khẩu, việc kê khai  của công ty đã được  các chi cục hải quan có thẩm  quyền thông quan kiểm tra và cho phép thông quan nay truy thu thuế sẽ gây thiệt hại lớn cho Công ty vì Công ty đã tính chi phí hàng hóa với mức thuế suất được các Chi cục Hải quan chấp thuận khi bán ra thị trường.

          2. Theo ông Ân thì sự việc Công ty nhập khẩu các lô hàng đã xảy ra từ năm 2003 đến nay đã 05 năm Cục Kiểm tra sau thông quan mới ra quyết định truy thu thuế là không  đúng quy định của pháp luật do tại phần II mục 1 điểm 3 Thông tư số 59/2007/ TT-BTC  ngày  14/6/2007  của Bộ Tài chính quy định “Trường hợp phát hiện có sự gian lận, trốn thuế thì phải truy thu tiền thuế trong thời hạn năm năm trở về trước kể từ ngày kiểm tra phát hiện. Ngày kiểm tra phát hiện có sự gian lận, trốn thuế là ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký quyết định truy thu thuế”. Ông Ân cho rằng trong tổng số 25 tờ khai hải quan bị Cục kiểm tra sau thông quan xử lý truy thu thuế có hai tờ khai đã quá thời hiệu 5 năm.

3. Các lô hàng Công ty nhập tại 25 tờ khai Hải quan bị Cục kiểm tra sau thông quan xử lý có nguồn gốc xuất xứ từ nước Hàn quốc (Korea), Trung quốc và Hoa Kỳ là những nước có quan hệ tối huệ quốc với Việt Nam, do đó việc nhập khẩu được tính thuế suất theo mức thuế suất ưu đãi, tuy nhiên theo tính toán của Cục kiểm tra sau thông quan  đối với số tiền truy thu tại quyết định 03/QĐ-KTSTQ thì Công ty THMS chưa được  xem xét khoản thuế suất ưu đãi này. Tại phiên Tòa công ty THMS cho rằng để hưởng thuế suất ưu đãi, theo quy định của pháp luật, khi làm hồ sơ kê khai hải quan thì công ty phải nộp cho cơ quan hải quan tờ khai xuất xứ hàng hóa (gọi tắt là CO), song  đối với 25 tờ khai hải quan bị xử lý công ty không nộp do công ty thấy không cần thiết, không có ý nghĩa vì mức thuế suất = 0%.

          Tại phiên Tòa đại diện theo ủy quyền của Công ty THMS xác định hiện nay đối với 25 tờ khai hải quan (nói trên), công ty không có giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo quy định của pháp luật do đó không thể nộp ngay cho Hội đồng xử án, công ty đề nghị được dừng phiên Tòa trong thời gian 45 ngày để công ty yêu cầu bên bán hàng (Trung quốc, Hàn quốc và Hoa Kỳ) gửi các giấy chứng nhận về. Ngoài ra tại phiên Tòa khi được Hội đồng xét xử hỏi về các giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo hợp đồng đã ký giữa công ty THMS và các công ty bên bán đều có thể hiện nội dung  “ bên bán phải gửi bộ hồ sơ cho bên mua  gồm nhiều lọai giấy tờ trong đó có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho công ty THMS – vì sao đến nay vẫn không có  – và việc không có gửi về là trái với thỏa thuận vì sao công ty không có ý kiến “ thì người đại diện của công ty THMS cho rằng do công ty THMS thiếu hiểu biết về pháp luật và do các  Chi cục Hải quan (khi cho thông quan) và Cục kiểm tra sau thông quan (khi kiểm tra xử lý) không có yêu cầu nên phía công ty không có sự giải trình cũng như chưa yêu cầu công ty bán hàng gửi chứng từ xuất xứ hàng hóa về. Tuy nhiên sau khi Quyết định 003 xử lý, đối chiếu với quy định của mức thuế suất ưu đãi thì công ty nhận thấy nếu công ty được hưởng mức thuế suất ưu đãi thì sẽ giảm từ 30% (thuế suất thông thường) xuống còn 20% (mức thuế suất ưu đãi), khoản chênh lệch này khá lớn, do đó công ty yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp thuận cho công ty thời gian để bổ sung chứng cứ này để nếu phải nộp thêm khoản tiền thuế còn thiếu thì cũng chỉ nộp theo mức thuế ưu đãi.

          3. Việc truy thu thuế theo Quyết định 03 của Cuc kiểm tra sau thông quan  không hợp lý thể hiện như sau:

* Trong khi thuế suất nhập khẩu cân nguyên chiếc trên 1000kg là 3% thì thuế suất của thiết bị thử độ nén dùng để sản xuất cân lên đến 30% -> là không phù  hợp;

* Mức thuế suất hiện hành đối với thiết bị cân là 5% trong khi thuế suất truy thu cao hơn thuế suất hiện hành  -> là không phù hợp;

* Nhiều doanh nghiệp trước đây nhập hàng tương tự như trên vẫn được áp dụng mức thuế suất 0% trong khi truy thu với công ty là -> không hợp lý;

Tại phiên Tòa ông Lương Khải Ân đại diện cho người bị kiện xác định giữ nguyên yêu cầu đã khởi kiện: Yêu cầu hủy quyết định số 003 ngày 31/3/2008 của Cục Kiểm tra sau thông quan đã ban hành ban hành.

Về phía người bị kiện do Ông Trần Kế Thắng  đại diện theo ủy quyền của Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

Yêu cầu Tòa bác  yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Kỹ Thuật & Tin Học THMS, với tư cách đại diện cho người bị kiện vẫn Giữ nguyên quyết định hành chính số 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 của Cục Kiểm tra sau thông quan về việc  “truy thu thuế ” đối với Công ty TNHH. THMS do đã áp sai mã số hàng nhập khẩu và giữ nguyên Quyết định 007/QĐ-KTSTQ ngày 26/5/2008 của Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan đã ban hành  vì các quyết định này được ban hành là có căn cứ phù hợp pháp luật được chứng minh như sau:

1. Theo quy định tại khoản 3 Điều 110 Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 thì “thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế là 05 năm , quá thời hiệu thì người nộp thuế không  bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền trốn thuế, số tiền thuế gian lận vào ngân sách Nhà nước “

Các lô hàng nhập khẩu của Công ty THMS tính từ thời điểm nhập khẩu đến thời điểm Cục Kiểm tra sau thông quan có thông báo số 190/KTSTQ-KV5 ngày 07/11/2007 gửi đến  Công ty để giải trình về các lô hàng là vẫn còn trong thời hạn 05 năm. Do đó việc Cục Kiểm tra sau thông quan ban hành Quyết định 003 “truy thu thuế” đối với Công ty là hòan tòan đúng quy định của Luật Quản lý thuế.

Ông Thắng cho rằng  Công ty THMS chứng minh bằng thông tư số 59/2007/TT-BTC để cho rằng có hai  tờ khai hải quan bị xử lý trong tổng số 25 tờ khai hải quan là đã quá thời hiệu 5 năm là không đúng, quyết định số 003/QĐ-KTSTQ của Cục kiểm tra sau thông quan, không có hình thức xử phạt mà chỉ truy thu  khoản tiền thuế mà công ty nộp chưa đủ  do đó  nếu cho rằng qúa năm năm thì cũng không vi phạm Điều 110 Luật Quản lý thuế, ngòai ra  đại diện của người bị kiện cho rằng  hiệu lực pháp luật của Luật Quản lý thuế cao hơn Thông tư số 59/TT-BTC do đó trong trường hợp có sự mâu thuẫn, không rỏ giữa hai văn bản này thì phải áp dụng Luật Quản lý Thuế.

2.  Công ty THMS so sánh và nêu sự bất hợp lý trong việc áp dụng thuế suất giữa  nhập khẩu nguyên chiếc và nhập khẩu thiết bị , giữa thuế suất được áp dụng “ để truy thu” và thuế suất “ hiện nay” nội dung này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Cục Kiểm tra sau thông quan vì  Cục Kiểm tra sau thông quan chỉ là cơ quan áp dụng các văn bản của các cơ quan có thẩm quyền ban hành và các văn bản áp dụng vẫn còn hiệu lực để thi hành.

3. Công ty cho rằng hiện nay có những doanh nghiệp họat động tương tự nhưng hàng nhập khẩu vẫn được áp dụng theo mức thuế suất 0%: Điều này Cục Kiểm tra sau thông quan đã tiến hành kiểm tra và đã có xử lý đối với từng trường hợp cụ thể. Công ty THMS không thể so sánh các trường hợp khác để lọai trừ trách nhiệm của mình, vì hành vi không nộp đủ thuế của Công ty THMS là đã vi phạm quy định của pháp luật, phải bị xử lý.

4. Việc Công ty TNHH. THMS cho rằng khi áp mã số hàng hóa đã được các Chi cục Hải quan đồng ý nên mới chấp thuận thông quan. Theo luật Hải quan quy định tại thời điểm làm thủ tục thông quan hàng hóa, cơ quan Hải quan hoặc miễn kiểm tra hàng hóa, hoặc chỉ mới kiểm tra sơ bộ hàng hóa và hồ sơ. Để đảm bảo quản lý Nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu thì việc kiểm tra sâu sẽ được tiến hành sau khi thông quan do đó không thể cho rằng hàng hóa đã được thông quan thì đã đảm bảo không có sự vi phạm về pháp luật trong việc kê khai và chịu thuế.

Ngoài ra theo trình bày của đại diện người bị kiện việc áp sai mã số hàng hóa còn do lỗi cố ý của Công ty TNHH. THMS, điều này thể hiện khi Công ty nhập khẩu hàng hóa  và kê khai thì Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất lập biên bản xử lý và xác định lại mã số hàng hóa nhưng sau đó Công ty vẫn tiếp tục khai mã số sai.

5. Đối với mức thuế suất đã được Cục kiểm tra sau thông quan áp dụng để truy thu khoản tiền thuế còn thiếu của Công ty là hòan tòan đúng với Quyết định và biểu thuế đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành  tương ứng với từng thời điểm của các tờ khai hải quan do đó  quyết định 03/QĐ-KTSTQ truy thu mức thuế suất  30% được căn cứ vào  mức thuế suất thông thường = 150% thuế suất ưu đãi ( theo quyết định 1803 thì mức thuế suất  của mã hàng 84239029 là  20% x 150% = 30%) , và sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì biểu thuế của Nhà nước chỉ còn phân biệt là thuế ưu đãi đặc biệt và Thuế suất thường = thuế suất ưu đãi do đó theo Quyết định 110 thì mức thuế suất ưu đãi  của mã hàng 84239019 = 20% do đó thuế suất thông thường = 20%).

Tại phiên Tòa phía công ty THMS yêu cầu dừng phiên tòa 45 ngày để bổ sung Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhằm được xem xét hưởng mức thuế suất ưu đãi. Đại diện của người bị kiện không chấp nhận vì  theo quy định của luật Hải quan  Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (CO) là 1 lọai chứng từ phải được doanh nghiệp nộp cho cơ quan hải quan ngay khi làm tờ khai hải quan (để được xem xét mức thuế suất ưu đãi), trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn nộp có thể gia hạn tối đa là 60 ngày, Hiện nay các Giấy chứng nhận này nếu được doanh nghiệp nộp cũng không còn giá trị để xem xét. Việc nộp CO là quyền lợi của doanh nghiệp do đó doanh nghiệp phải chủ động và phải thực hiện theo đúng quy định, doanh nghiệp không thể cho rằng do Chi cục Hải quan và cục kiểm tra sau thông quan không yêu cầu để biện luận cho hành vi vi phạm của mình.

Ngoài ra đại diện của người bị kiện cho rằng một trong những lý do mà doanh nghiệp không nộp là vì trong giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa có mô tã hàng hóa, loại –  do đó  để khai mã hàng, mô tả hàng hóa theo ý chí của doanh nghiệp thì doanh nghiệp không nộp CO. Người bị kiện cho rằng điều này thể hiện rỏ vì tại tờ khai  Chi cục Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất đã áp lại mã hàng, nhưng công ty đã thừa nhận, đã thực hiện , không khiếu nại và không hề yêu cầu có thời gian để bổ sung chứng nhận xuất xứ hàng hóa (vì theo hợp đồng chứng từ này đã được gửi kèm với hàng hóa khi đến Việt Nam).

Ngoài ra tại phiên Tòa, đại diện của người bị kiện trình bày theo quy định tại điều 9 luật Quản lý thuế thì số tiền thuế doanh nghiệp phải nộp được tính trên căn cứ giá hàng hóa về đến Việt Nam ( bao gồm giá trị hàng, phí vận chuyển và phí bảo hiểm nếu có – CIF), do đó việc đại diện của công ty THMS cho rằng tiền thuế được tính trên giá trị hàng hóa  nguyên tệ là hiểu chưa đúng và không phù hợp với quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên Tòa có ý kến về vụ kiện như sau:

Đơn khởi kiện của Công ty TNHH Kỹ thuật & Tin học THMS làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 39 luật Khiếu nại, tố cáo. Tòa án thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết là đúng theo thẩm quyền được  quy định tại khoản 10 Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục Giải quyết các vụ án hành chính.

Về nội dung khởi kiện của Công ty TNHH Kỹ thuật & Tin học THMS, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

Quyết định 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 của Cục kiểm tra sau thông quan ban hành để truy thu khoản tiền thuế còn thiếu của Công ty THMS là có căn cứ đúng với hành vi vi phạm của Công ty, đúng với các quy định của pháp luật tương ứng như Luật quản lý thuế, luật Hải quan, Quyết định và biểu thuế của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Không có căn cứ để cho rằng hai tờ khai hải quan bị xử lý quá thời hiệu năm năm là trái pháp luật vì trong trường hợp này Cục kiểm tra sau thông quan chỉ  xử lý bằng hình thức truy thu khoản tiền thuế mà doanh nghiệp nộp chưa đủ.

          Từ những quan điểm đã phân tích trên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa xét xử theo hướng: Bác đơn khởi kiện của Công ty TNHH Kỹ thuật & Tin học THMS yêu cầu hủy Quyết định số 003/QĐ-KTSTQ do Cục Kiểm tra sau thông quan ban hành ngày 31/3/2008.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra các chứng cứ tại phiên Tòa;

          Sau khi nghe các bên đương sự phát biểu ý kiến tranh luận, và nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ kiện; Hội đồng xét xử nhận xét về vụ án như sau:

Về tư cách tham gia tố tụng trong vụ án :

Trong quá trình giải quyết vụ án  Công ty THMS có yêu cầu triệu tập  các Chi cục Hải quan có liên quan đến việc đã cho thông quan các lô hàng của Công ty tại 25 tờ khai Hải quan nói trên để làm rỏ trách nhiệm của các chi cục hải quan. Xét thấy theo nội dung  đơn khởi kiện của Công ty THMS, phía công ty không có yêu cầu gì về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với  hành vi của các chi cục  Hải quan đã cho phép Công ty thông quan các lô hàng thuộc 25 tờ khai hải quan nói trên, đại diện công ty THMS cho rằng công ty yêu cầu Tòa triệu tập các chi cục Hải quan chỉ nhằm làm rỏ trách nhiệm và sau đó công ty có thể khởi kiện các chi cục Hải quan bằng 1 vụ án khác .  Xét thấy sự tham gia hay không tham gia của  các  Chi cục Hải quan  gồm chi cục Hải quan Bưu điện thành phố Hồ Chí Minh,  chi cục Hải quan CK Cảng Sài Gòn khu vực 1, Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, chi cục Hải quan Cảng Cát Lái trong vụ án  không làm ảnh hưởng đến việc xem xét tính hợp pháp , tính có căn cứ của Quyết định số 03/KTSTQ ngày 31/3/2007 của Cục kiểm tra sau thông quan, do trong vụ án các chi cục Hải quan nói trên không tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan . Do đó không chấp nhận yêu cầu của Công ty THMS hõan phiên Tòa để triệu tập các chi cục Hải quan tham gia tố tụng.

          2. Quyết định số 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 của Cục Kiểm tra sau thông quan – Tổng cục Hải quan ban hành có nội dung “truy thu thuế”đối với Công ty Trách nhiệm hữu  hạn Kỹ thuật & Tin học THMS do đó Quyết định số 003 (nói trên ) được xác định là Quyết định hành chính lần đầu, đây là lọai quyết định thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính quy định tại khoản 10 Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục Giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006.

Quyết định giải quyết khiếu nại  số 007/QĐ-KTSTQ do Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan-Tổng Cục Hải quan ban hành ngày 26/5/20008 có nội dung “ bác khiếu nại của Công ty THMS, giữ nguyên quyết định số 003/QĐ-KTSTQ” – Không đồng ý với  quyết định giải quyết khiếu nại , ngày 12/6/2008 Công ty THMS  làm đơn khởi kiện;

Đơn khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật & Tin học THMS đã  làm trong thời hạn, đúng thủ tục, đúng thẩm quyền đã được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2, khoản 10 Điều 11 và điểm a khoản 2 Điều 30 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung năm 2006).

          3. Về thẩm quyền ban hành quyết định truy thu thuế số 003/Q-KTSTQ ngày 31/3/2008 của Cục Kiểm tra sau thông quan:

          Căn cứ  điểm b khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý Thuế quy định: “Cơ quan quản lý thuế gồm có  Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan, Chi cục Hải quan”.

          Căn cứ  Điều 103 Luật Quản lý Thuế và khoản 2 Điều 109 Luật Quản lý Thuế quy định: “ Đối với hành vi quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 103 của Luật này thì thủ trưởng cơ quan quản lý Thuế, Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế”.

           Khoản 3 điều 32 Luật Hải quan (đã sửa đổi, bổ sung) đã quy định kiểm tra sau thông quan  như sau:

          3. Trong thời hạn năm 5 kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan. Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan. Trong trường hợp cần thiết, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ra quyết định kiểm tra sau thông quan.

          4. Căn cứ Quyết định kiểm tra sau thông quan, cán bộ hải quan trực tiếp kiểm tra sổ sách, chứng từ kế tóan…

          5….. Chính phủ quy định cụ thể về kiểm tra sau thông quan”.

          Căn cứ Thông tư số 114/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu:

I.  Hình thức và phương thức kiểm tra sau thông quan gồm có:

          “  Kiểm tra tại trụ sở cơ quan Hải quan theo phương pháp đối chiếu, so sánh giữa nội dung khai tại hồ sơ hải quan với các thông tin nghiệp vụ hải quan và các quy định pháp luật có liên quan

   – Kiểm tra tại trụ sở đơn vị được kiểm tra….”

II. Trình tự và nội dung kiểm tra sau thông quan:

Kiểm tra tại trụ sở Hải quan:

Kiểm tra hồ sơ hải quan

Kết thúc việc kiểm tra

Kiểm tra tại trụ sở, đơn vị được kiểm tra

Khi tiến hành kiểm tra tại trụ sở đơn vị được kiểm tra, cán bộ kiểm tra sau thông quan thực hiện:

Công bố Quyết định kiểm tra sau thông quan

Căn cứ vào các quy định đã được viện dẫn trên, xét việc kiểm tra sau thông quan  của Cục Kiểm tra sau thông quan đối với trường hợp của Công ty trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật & Tin học là  kiểm tra sau thông quan – được thực hiện tại trụ sở Hải quan “ do đó không có Quyết định kiểm tra sau thông quan là không trái với quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Hải quan.

          Từ những nhận xét trên xét thấy Cục Kiểm tra sau thông quan – Tổng cục Hải quan ban hành  quyết định số 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 để  truy thu thuế đối với  Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật & Tin học THMS là đúng thẩm quyền , trình tự  đã được  pháp luật quy định

          4. Quyết định 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 của Cục kiểm tra sau thông quan được Hội đồng xử án xem xét với các nội dung sau: :

          4.1  Về thời hiệu :

* Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 110 Luật quản lý thuế  số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định : “ thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế là 05 năm kể từ ngày có hành vi vi phạm, quá thời hiệu thì đối tượng nộp thuế không bị xử phạt nhưngvẫn phải nộp đủ số tiền thuế  thiếu …”

* Căn cứ công văn số 190/KTSTQ-NV 5 ngày 07/11/2007 của Cục Kiểm tra sau thông quan thông báo cho Công ty TNHH.THMS  đến để giải trình  đối với các lô hàng nhập khẩu của Công ty tại 25 tờ khai Hải quan phát sinh từ ngày  22/01/2003 đến ngày 25/9/2007 là còn trong thời hạn 05 năm. Hơn nữa căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 110 thì  thời hiệu 5 năm chỉ có ý nghĩa đối với các trường hợp doanh nghiệp bị  áp dụng hình thức xử phạt vi phạm , Quyết định 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2007 của Cục kiểm tra sau thông quan chỉ truy thu số tiền thuế doanh nghiệp THMS chưa nộp đủ, do đó không trái với quy định của pháp luật về thời hiệu.

4. 2 về việc áp mã hàng :

          Công ty trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật & Tin học T.H.M.S cho rằng Quyết định số 003 vi phạm do đã chủ quan trong việc áp mã hàng hóa từ 9024801000 sang mã số 8423901900:

          Tại các bản khai Công ty trách nhiệm hữu hạn T.H.M.S trình bày: Công ty được thành lập theo Giấy phép số 4102003499 do Sở Kế Họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/01/2001, là đơn vị chuyên họat động sản xuất kinh doanh cân xe tải – lô hàng mà  công ty đã nhập khẩu tại 25 tờ khai hải quan  mà Cục kiểm tra sau thông quan – Tổng cục Hải quan truy thu thuế  theo công ty khai là bộ cảm biến và bộ hiển thị ( thiết bị thử độ nén) – dùng  để làm cân xe .

           Theo Quyết định số 110/2003/QĐ-BTC ngày 25/7/2003 của Bộ Tài Chánh  ban hành , kèm theo biểu thuế thì:

          Mã hàng 8423

          Mô tả hàng hóa:  Cân ( trừ các lọai cân đo có độ nhậy 5 cg hoặc nhậy hơn) kể cả máy đếm, máy kiểm tra họat động bằng nguyên lý cân, các lọai quả cân.

          Mã hàng  84239019

          Mô tả hàng hóa : Bộ phận của cân

          Và

Mã hàng  9024

Mô tả hàng hóa: Máy và thiết bị thử độ cứng, độ bền, độ nén, độ đàn hồi hay các tính chất cơ học khác của vật liệu ( ví dụ : kim loai, gỗ, hàng dệt, giấy, plastic)

Mã hàng 90248010

Mô tả hàng hóa: họat động bằng điện

Từ  những nội dung  về mã hàng, về mô tả hàng hóa  đã được viện dẫn trên, đối chiếu  lời khai của đại diện Công ty THMS  thì thiết bị công ty nhập về  được công ty sử dụng vào mục đích kinh doanh của  công ty từ trước  đến nay  là để sử dụng làm cân xe tải  – điều nay là hòan tòan phù hợp với chức năng kinh doanh của công ty khi được cấp phép kinh doanh. Từ những căn cứ này cho thấy việc Cục kiểm tra sau thông quan – Tổng cục Hải quan xác định các lô hàng nhập khẩu  Bộ cảm ứng, bộ hiển thị ( thiết bị thử độ nén) do công ty T.H,M.S nhập khẩu  thuộc mã hàng 8423, mã hàng hóa 84239019 là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Công ty T.H.M.S cho rằng   lô hàng của công ty thuộc mã hàng 9024, mã hàng hóa 90248010 là không có căn cứ, không phù hợp với  đặc điểm của màng hàng đã được mô tả hàng hóa và không phù hợp với chức năng kinh doanh của công ty  khi đăng ký vì công ty THMS không có chức năng kinh doanh thiết bị ( mà là kinh doanh mua bán cân xe tải).

Mặt khác xét thấy việc Cục kiểm tra sau thông quan áp mã hàng hóa lô hàng công ty THMS nhập thuộc mã 84239019 là có căn cứ và đã được chính Công ty THMS thừa nhận thông qua việc Chi cục Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất chỉnh sửa chuyển đổi mã tại lô hàng tờ khai hải quan số 32282 ngày 05/12/2006 và Công ty đã chấp nhận –  đã thực hiện việc nộp thuế và không có khiếu nại , ngòai ra sau khi Cục kiểm tra sau thông quan ban hành Quyết định hành chính số 03/ KTSTQ , tại các biên bản làm việc , đối thọai giữa Công ty THMS và Cục kiểm tra sau thông quan  ngày 06/12/2007, 19/12/2007, 05/3/2008 phía công ty đều xác định việc “ áp mã hàng hóa của Cục kiểm tra sau thông quan là có căn cứ.”

4.3 Về mức thuế suất áp dụng:

Căn cứ Nghị định 94/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu  quy định như sau:

Điểm a khoản 1 Điều 1  “ thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước hoặc khối nước có thỏa thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ  thương mại với Việt Nam “

Và điểm b) khoản  1 Điều 1 quy định “ thuế suất thông thường được áp dụng cho  hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước không có thỏa thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất thông thường được áp dụng thống nhất cao hơn 50% so với thuế suất ưu đãi quy định tại điểm a mục 1 của Điều này…..”.

Xét thấy tại phiên Tòa phía công ty THMS cho rằng đối với các lô hàng mà công ty đã nhập khẩu tại 25 tờ khai hải quan là thuộc nhóm được hưởng mức thuế suất ưu đãi, do xuất xứ của các lô hàng là của Trung quốc, Hàn Quốc và Hoa Kỳ (là ba nước thuộc các nước có thỏa thuận về đối xử tối huệ quốc, tức nhóm  quan hệ được điều chỉnh theo điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị định 94/1998.NĐ-CP ngày 17/11/1998). Do đó người đại diện của  Công ty THMS tại phiên tòa  có yêu cầu dừng phiên tòa 45 ngày , công ty  sẽ  yêu cầu công ty bán hàng gửi giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa  của các lô hàng thuộc 25 tờ khai hải quan về để xem xét lại cho công ty được hưởng mức thuế suất ưu đãi 20% (theo quyết định 003 thì áp dụng thức suất thường là 30%). Yêu cầu này của phía công ty THMS không được  người bị kiện chấp nhận.

Xét thấy theo quy định của pháp luật thì để được hưởng mức thuế suất ưu đãi, công ty THMS phải nộp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho cơ quan hải quan (gọi tắt là CO) trong thời hạn quy định cụ thể là phải nộp ngay khi làm thủ tục hải quan để thông quan, trong từng trường hợp cụ thể thì cơ quan Hải quan có thể cho gia hạn nộp là 60 ngày. Xét thời điểm phát sinh của 25 tờ khai hải quan là ngày  22/01/2003 đến ngày 25/9/2007  do đó yêu cầu của đại diện công ty THMS là không có căn cứ  phù hợp với quy định tại  điểm a khoản 1, khoản 3, khoản 4, khoản 8 Mục  III Thông tư Liên tịch09/2000/TTLT-BTM-TCHQ ngày 17/4/2000 của Bộ Thương Mại và Tổng Cục Hải quan hướng dẫn về việc xác định và kiểm tra xuất xứ hàng hóa nên không được chấp nhận. Xét việc Cục kiểm tra sau thông quan đã áp dụng mức thuế suất thông thường để tính thuế truy thu đối với công ty THMS là có căn cứ phù hợp với các quy định pháp luật đã được viện dẫn trên.

* Căn cứ quy định tại Điều 2  Quyết định  số 1803/1998/QĐ-BTC ngày 11/12/1998 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính về việc ban hành Biểu thuế thuế nhập khẩu ưu đãi như sau “Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Quyết định này thay thế cho Biểu thuế thuế nhập khẩu hiện hành, có hiệu lực thi hành và áp dụng cho tất cả các tờ khai hàng hóa nhập khẩu đăng ký với cơ quan Hải quan bắt đầu từ ngày 01/01/1999” – Biểu thuế kèm theo Quyết định: mã hàng 84239010 …thuế suất 20

 và căn cứ Điều 3 Quyết định số 110/2003/QĐ-BTC ngày 25/7/2003 về việc ban hành Biểu thuế nhập khẩư ưu đãi quy định : “ Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo quyết định này có hiệu lực thi hành và áp dụng cho tất cả các tờ khai hàng hóa nhập khẩu nộp cho cơ quan Hải quan bắt đầu từ  ngày 01/9/2003 thay thế cho Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Quyết định số 1803/1998/QĐ-BTC ngày 11/12/1998…” – Biểu thuế kèm theo quyết định : mã hàng 84239019 ( bộ phận của cân ) – thuế suất 20% và tại Điều 1 Quyết định số 97/2005/QĐ-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc áp dụng biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi quy định “ Tiếp tục áp dụng mức thuế ……… suất thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Quyết định 110/2003/QĐ-BTC ngày 25/7/2003….. tại Điều 4 quyết định số 39/2006/QĐ-BTC ngày 28/7/2006  của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi quy định “ Quyết định này có hiệu lực thi hành và áp dụng cho các tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đăng ký với cơ quan hải quan kể từ ngày 15/9/2006. Hủy bỏ Quyết định số 97/2005/QĐ-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ trưởng Bộ tài chính ….” – Biểu thuế ban hành kèm theo quyết định: mã hàng 8423901900 (bộ phận của cân) – thuế suất 20%.

Căn cứ vào 25 tờ khai Hải quan (theo liệt kê đính kèm trong hồ sơ),  sau đối chiếu với  các quy định pháp luật đã được viện dẫn ở phần nhận xét  trên gồm (quyết định và biểu thuế kèm theo), đối chiếu thời gian  Công ty THMS đã nhập khẩu lô hàng, đối chiếu với số lượng hàng hóa đã nhập khẩu theo tờ khai hải quan,  Xét thấy việc Cục kiểm tra sau thông quan buộc công ty THMS truy nộp  lại đủ số tiền thuế còn thiếu là 617.537.341 đồng ( gồm Thuế nhập khẩu là 588.130.805 đồng và Thuế VAT là 29.406.536 đồng ) là có căn cứ đúng pháp luật (bản liệt kê chi tiết kèm theo bản án là  phụ lục của bản án)

          Từ những nhận xét trên không chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật & Tin học THMS yêu cầu Hủy quyết định truy thu thuế số 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 của Cục Kiểm tra sau thông quan .

          Về án phí hành chính sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật & Tin học THMS phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là  50.000 đồng  được cấn trừ vào 50.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã tạm nộp theo biên lai thu số 005198,  quyển 104 ngày 01/7/2008 của Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh (người nộp tiền Lương Khải Ân);

          Bởi các lẽ  trên;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2, khoản 10 điều 11, điều 29, điều 30 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006;

Căn cứ   khoản 2 Điều 2, Điều 103, khoản 2 Điều 109, khoản 3 Điều 110 Luật Quản lý Thuế

Căn cứ  Điều 22,  khoản 3  Điều 32 luật Hải quan ( đã sửa đổi, bổ sung) và căn cứ điểm a) khoản 1, khoản 3, khoản 4, khoản 8 Mục  III Thông tư Liên tịch 09/2000/TTLT-BTM-TCHQ ngày 17/4/2000 của Bộ Thương Mại và Tổng Cục Hải quan hướng dẫn về việc xác định và kiểm tra xuất xứ hàng hóa.

Căn cứ Thông tư 114/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Căn cứ Quyết định 1803/1998/QĐ-BTC ngày  11/12/1998 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và (biểu thuế kèm theo Quyết định)

Căn cứ Quyết định 110/2003/QĐ-BTC ngày 25/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và (biểu thuế kèm theo Quyết định)

Căn cứ Quyết định số 97/2005/QĐ-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Căn cứ Quyết định số 39/2006/QĐ-BTC ngày 28/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và (biểu thuế kèm theo)

Căn cứ điều 27 và khoản 1 điều 30 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về lệ phí, án phí Tòa án,

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

QUYẾT ĐỊNH:

1. Xử: Bác  yêu cầu  khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật & Tin học THMS về việc hủy quyết định hành chính “truy thu thuế ” số 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 của Cục Kiểm tra sau thông quan.

2. Về án phí: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật & Tin học THMS phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là  50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng)  được cấn trừ vào 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã tạm nộp theo biên lai thu số 005198,  quyển 104 ngày 01/7/2008 của Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh (người nộp tiền Lương Khải Ân);

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:                                                   TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

– Tòa án nhân dân tối cao;                               THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

– Viện kiểm sát nhân dân Tp;

– Thi hành án dân sự;

– Các đương sự (để thi hành);

– Lưu.

                                                      Trương Quế Phượng

Bình luận - Thắc mắc - Góp ý

thảo luận

Khởi kiện “quyết định hành chính trong việc áp dụng thuế, truy thu thuế…”
2 (40%) 1 vote

Bài viết liên quan cùng chủ đề: