Bài Viết Mới

Khiếu kiện “quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp, thu hồi giấy phép về xây dựng cơ bản, sản xuất, kinh doanh;…

Số hiệu244/2009/HC-ST
Tiêu đềKhiếu  kiện “quyết định hành chính, hành vi hành  chính trong việc cấp, thu hồi giấy phép về xây dựng cơ bản, sản xuất, kinh doanh; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề hoặc khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính khác liên quan đến họat động kinh doanh, tài chính của thương nhân ”
Ngày ban hành13/02/2009
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcHành chính

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

                                  ______________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

           Độc  lập   –    Tự  do   –   Hạnh phúc

                          _______________________________________________________________

 

Bản án số: 244/2009/HC-ST

Ngày: 13/02/2009

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Trương Quế Phượng  

Các Hội Thẩm Nhân Dân:           1. Ông  Đặng Trung Tâm

                                                       2. Bà Hồ Thị Diệu Hà

Thư ký Tòa An  ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị  Hương – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tiểu Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2009 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án  khiếu  kiện “quyết định hành chính, hành vi hành  chính trong việc cấp, thu hồi giấy phép về xây dựng cơ bản, sản xuất, kinh doanh; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề hoặc khiếu kiệnquyết định hành chính, hành vi hành chính khác liên quan đến họat động kinh doanh, tài chính của thương nhân ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 333/2009/QĐXX-HC  ngày 05/02/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh  giữa các đương sự:

Người khởi kiện:  1. Bà Kwan Po Ping, sinh năm 1947. Có mặt

                               Quốc tịch: Trung Quốc

                               2. Ông Lui Lik Chee, sinh năm 1970.

                               Quốc tịch: Canada

Cùng địa chỉ:  80A Trần Đình Xu, phường Cầu Kho, quận 1 thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Lui Lik Chee có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt.

Người phiên dịch cho người khởi kiện:

Ông Lương Quan Thạch, sinh năm 1947,

Địa chỉ: 313/2 Nguyễn Trải, phường 7 quận 5 (ông Thạch là  người phiên dịch do người khởi kiện tự chọn lựa và được Tòa án chấp nhận).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện:

Luật sư  Lê Thị Minh Nhân – Thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh;

Người bị kiện:  ……….. Sở Kế họach và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh.

…………………………….. Địa chỉ: 32 Lê Thánh Tôn, quận 1, thành phố        Hồ Chí Minh.

…………………………….. Đại diện  theo ủy quyền của người bị kiện:

…………………………….. Ông Hà Hữu Trí;

…………………………….. Chức vụ Phó phòng đăng ký đầu tư doanh nghiệp của Sở Kế họach và Đầu tư  thành phố   Hồ Chí Minh, theo Giấy ủy quyền của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn (tên giao dịch Food Center of SaiGon)do ông Trần Mỹ Đãi – Phó Tổng Giám đốc làm đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền của Chủ tịch HĐQT (Giấy ủy quyền không có con dấu do con dấu hiện nay ông Lui Lik Chee đang giữ và đang tranh chấp).

Địa chỉ: 393B Trần Hưng Đạo, phường Cầu Kho quận 1. Có mặt.

2. Công ty SXKD & DV 990

Địa chỉ: 214 Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Do ông Trần Mỹ Đãi làm đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch HĐQT. Có mặt.

3. Công ty Madarin Hong Kong

Do ông Lui Kwong Wah –  đại diện.

Quốc tịch: Trung quốc (Hong Kong)

Địa chỉ 52/22 Cù Lao, phường 2 quận Phú Nhuận; thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: 3/18 Nơ Trang Long, phường 7 quận Bình Thạnh. Có mặt. Ông Lui Kwong Wah nghe, nói được tiếng Việt  và có đại diện ủy quyền tham gia phiên Tòa do đó ông Wah  không yêu cầu người  phiên dịch.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lui Kwong Wah: Ông Trần Trung Dũng, sinh năm 1965. Địa chỉ 177 Trần Phú, phường 4 quận 5. Có mặt.

NHẬN THẤY

          Theo đơn khởi kiện ngày 24/01/2008 người khởi kiện bà Kwan Po Ping và ông Lui Lik Chee trình bày yêu cầu và căn cứ pháp lý  khởi kiện  đối với “hành vi hành chính Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh trong việc ban hành Giấy xác nhận số 7726/SKHĐTDN ngày 30/11/2007” như sau:

          1.1  Nội dung yêu cầu khởi kiện:

          */. Ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping có mối quan hệ là mẹ con., giữa ông và ông Lui Kwong Wah có quan hệ  là cha con. Ông là Tổng Giám đốc Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn  (tên giao dịch là Food Center op Sai Gon) và là ủy viên Hội đồng quản trị trong công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn từ năm 1997 cho đến nay.

Bà Kwan Po Ping là ủy viên Hội đồng quản trị liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn ( tên giao dịch Rood Center of Sai Gon).

Ngày 01/12/2007 ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping có nhận được  bản sao Giấy xác nhận số 7726/SKHĐT–DN ngày 30/11/2007 của Sở Kế Họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh có nội dung xác nhận tư cách thành viên Hội đồng quản trị của bên nước ngoài trong Công ty  liên doanh. Theo đó Sở Kế họach và Đầu tư  thành phố Hồ Chí Minh đã xác nhận như sau:

“ Bên nước ngoài trong Công ty Liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn (Công ty Madarin HongKong) đã cử:

1. Ông Nguyễn Sơn Trà (sinh ngày 16/12/1941; quốc tịch Việt Nam; chứng minh nhân dân số 020077493 cấp ngày 07/6/1978 tại thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ thường trú tại số 105, đường 3 tháng 2, phường 11 quận 10 thành phố Hồ Chí Minh) và

2. Bà Thái Thị Cẩm Tú ( sinh ngày 06/12/1972; quốc tịch Việt Nam; chưng minh nhân dân số 022254857 cấp ngày 24/3/1995 tại thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ thường trú tại số 5/41A Nơ Trang Long, phường 7 quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh )

Thay thế

1.                  Ông Lui Lik Chee

2.                  Bà Kwan Po Ping

Làm thành viên Hội đồng quản trị của Công ty Liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn”.

Sau khi nhận được Giấy xác nhận nói trên ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping không đồng ý do Giấy xác nhận đã đương nhiên chấm dứt tư cách thành viên Hội đồng quản trị Công ty liên doanh nhà hàng  ăn uống Sài Gòn của ông, bà và như vậy cũng mặc nhiên làm  chấm dứt các quyền lợi của ông Lui Lik Chee và bà  Kwan Po Ping trong khi  không có thông qua các hình thức,  trình tự , thủ tục đã được quy định trong Điều lệ liên doanh, theo pháp luật về đầu tư . Ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping cho rằng Giấy xác nhận của Sở Kế họach và Đầu tư đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mình nên  đã thực hiện quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật đối với hành vi trên của Sở Kế họach và Đầu tư.

Theo người khởi kiện trình bày, từ khi nộp đơn khiếu nại đã quá thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật  nhưng Sở Kế họach và Đầu tư không giải quyết  đơn khiếu nại theo quy định tại điều 36 Luật khiếu nại, tố cáo. Do đó ông  Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án  yêu cầu hủy Giấy xác nhận 7726/SKHĐT – DN ngày 30/11/2007 của Sở Kế Họach và Đầu tư thành phố  Hồ Chí Minh 

Ngày 28/02/2008 ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping nộp đơn khiếu kiện với nội dung “ khiếu kiện Giấy xác nhận số 8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007 của Sở Kế họach và Đầu tư “ .  Đơn khiếu kiện có nội dung như sau:

*/. Ngày 25/12/2007, ông Lui Lik Chee  và bà Kwan Po Ping  lại tiếp tục nhận được Giấy xác nhận số 8206/SKHĐT-DN về việc xác nhận Hội đồng quản trị và Ban điều hành của Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống khách sạn Sài Gòn . Giấy có nội dung như sau :

Xác nhận:

Hội đồng quản trị:

1. Chủ tịch                                                  : Ông Dương Ngọc Cứ

2. Phó chủ tịch                                  : Ông Lui Kwong Wah

3. Ủy viên                                          : Ông Phạm Văn Khước

4. Ủy viên                                          : Bà Thái Thị Cẩm Tú

5. Ủy viên                                          : Ông Nguyễn Sơn Trà

Ban Điều hành:

1. Tổng Giám đốc                              : Ông Lui Kwong Wah

2. Phó Tổng Giám đốc                      : Ông Trần Mỹ Đãi

Giấy xác nhận này thay thế các Giấy xác nhận số 1732/GXN-KHĐT ngày 08/5/2003 và số 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007 của Sở Kế họach và Đầu tư và có Giá trị pháp lý để Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn thuận tiện trong quan hệ giao dịch với các tổ chức kinh tế và các cơ quan quản lý của Nhà nước Việt Nam.

Không đồng ý với nội dung của Giấy xác nhận 8206 (nói trên) nên ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping đã tiếp tục  làm đơn khiếu nại; Tuy nhiên cũng như lần khiếu nại trước  ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping cũng không được Sở Kế họach và Đầu tư giải quyết  đơn khiếu nại theo quy định của luật Khiếu nại, Tố cáo. Do đó ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping đã gửi đơn khiếu kiện đến Tòa án yêu cầu hủy Giấy xác nhận số8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007 của Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên Tòa hôm nay ông  Lui Lik Chee vắng mặt  , tuy nhiên theo đơn xin vắng mặt của ông Chee , ông giữ nguyên yêu cầu đã khởi kiện,  bà Kwan Po Ping giữ nguyên yêu cầu đã khởi kiện.

Bà Kwan Po Ping trình bày tuy rằng Giấy xác nhận 8206/SKHĐT-DN ban hành ngày 21/12/2007 có nội dung thay thế Giấy xác nhận số 7726/SKHĐT- DN ngày 30/11/2007 tuy nhiên do người bị kiện trình bày căn cứ vào Giấy xác nhận 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2006 đã xác nhận tư cách thành viên Hội đồng quản trị  bên nước ngoài của ông Nguyễn Sơn Trà và bà Thái Thị Cẩm Tú do đó các cuộc họp của  Hội đồng quản trị  được hai thành viên này tham gia ngày 03/ 12/2007, ngày 18/12/2007 (các cuộc họp làm căn cứ để Sở ban hành Giấy xác nhận 8206 ngày 21/12/2007) là có căn cứ đúng thành phần. Do đó giữ nguyên yêu cầu đã khởi kiện đối với Giấy xác nhận 7726 mặc dù  Giấy xác nhận này đã được Giấy xác nhận 8206 thay thế.

Ngày 12/02/2008  người khởi kiện nộp đơn bổ sung   yêu cầu  Tòa triệu tập cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh và  chấp hành viên  thuộc cơ quan  Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong việc  đã phát hành văn bản số 849/THA ngày 16/11/2006 ( do người bị kiện  đã xác định trong các văn bản tại hồ sơ và tại phiên tòa   công văn 849  là 1 trong những căn cứ có tính quyết định để Sở kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh ban hành hai Giấy xác nhận).

 Người khởi kiện cho rằng công văn số 849/THA nói trên đã ban hành hoàn toàn trái với nội dung Quyết định 20/06 ngày 30/12/2006 của Hội đồng trọng tài quốc tế Việt Nam và đã vượt thẩm quyền theo pháp lệnh thi hành án, văn bản này đã làm thiệt hại nghiêm trọng quyền  và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện tuy nhiên bà Kwan Po Ping và ông Lui Lik Chee xác định trong phạm vi vụ kiện này chưa có yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hành vi hành chính của Sở Kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh trong việc ban hành hai Giấy xác nhận nói trên , đồng thời chưa có yêu cầu bồi thường thiệt hại  đối với  việc  chấp hành viên  đã ban hành văn bản 849/THA ngày 16/11/2006.

1.2 Căn cứ pháp lý : Người khởi kiện và luật sư trình bày căn cứ pháp lý để yêu cầu hủy hai giấy xác nhận trên như sau:

*/. Giấy xác nhận số 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007 và Giấy xác nhận8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007 của Sở kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh ban hành vi phạm cả về hình thức lẫn nội dung. Theo luật sư:

Về thẩm quyền ban hành: Căn cứ vào luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư và cả văn bản số9087/BKH-KCN-KCX ngày 07/12/2006 của Bộ kế họach và Đầu tư không có nội dung nào quy định Sở kế họach và đầu tư có thẩm quyền ban hành Giấy xác nhận để thay thế tư cách thành viên của công ty. Trong văn bản của Bộ kế họach và đầu tư khi trả lời một số câu hỏi liên quan đến luật Đầu tư và luật Doanh nghiệp đã xác định rỏ “ luật doanh nghiệp và luật đầu tư không có quy định tuy nhiên trong những trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của doanh nghiệp về việc xác định tư cách chủ chốt của doanh nghiệp để thực hiện các công việc như : khắc dấu, thuê nhà…. thì Sở xác nhận”, do đó việc xác nhận của Sở kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh là vi phạm về thẩm quyền ban hành.

*./ Về nội dung: Các căn cứ được Sở kế họach và đầu tư viện dẫn làm cơ sở pháp lý cho việc ban hành thì những căn cứ này là trái pháp luật – cụ thể như sau:

a)   Đối với Quyết định Trọng tài vụ kiện số 20/06 ngày 30/12/2006 của Trọng Tài Việt Nam là vi phạm pháp luật do:

–  Thỏa thuận trọng tài đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật, vi phạm khoản 2, 3, 4 Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 vì:

–  Ngay từ khi thành lập Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn, Công ty Madarin HongKong đã ngưng họat động từ trước đó 330 ngày (điều này đã được ông Lui Kwong Wah thừa nhận trong đơn kiện), như vậy ông Lui Kwong Wah không còn đủ tư cách để khởi kiện theo tài phán Trọng tài;

–  Thực tế việc góp vốn của bên nước ngoài tại Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn ( công ty Madarin HongKong) gồm có 05 người theo biên bản xác nhận góp vốn của công ty Madarin HongKọng tại Công ty liên doanh, biên bản có chữ ký của ông Lui Kwong Wah ngày 14/02/2000; cả 05 người góp vốn đều không có ủy quyền cho ông Lui Kwong Wah kiện, thay thế các thành viên Hội đồng  quản trị tham gia tố tụng trọng tài

–  Vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tố tụng trọng tài khi không mời ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping tham gia tố tụng trọng tài với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Không gửi quyết định trọng tài cho ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping;

–  Bà Kwan Po Ping và ông Lui Lik Chee là những người tham gia góp vốn vào công ty liên doanh do đó bà Po Ping và ông Lik Chee không chấp nhận việc ông Lui Kwong Wah tự nhận mình là chủ sổ hữu duy nhất của công ty Madarin HongKong do đó ông Lui Kwong Wah không có quyền  tự ý đơn phương thay thế hai thành viên hội đồng quản trị  bên nước ngoài trong công ty liên doanh.

Hiện nay bà Po Ping và ông Lui Lik Chee đã có đơn gửi đến  các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam để yêu cầu xem xét, hiện nay Bộ Kế họach và Đầu tư đã có văn bản gửi cho Bộ Tư pháp, Tòa án Tối cao và Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam để xem xét. Đồng thời hiện nay vụ án bà Po Ping và ông Lui Lik Chee khởi kiện ông Lui Kwong Wah  về việc tranh chấp tiền vay, tiền góp vốn tại Công ty liên doanh Nhà hàng ăn uống khách sạn Sài Gòn đã được Tòa án Tối cao Đặc khu hành chính HồngKong thụ lý giải quyết (lý do chưa giải quyết được vì triệu tập nhiều lần nhưng ông Lui Kwong Wah vắng mặt)

b) Văn bản số 849/THA ngày 16/11/2007 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh, được Sở Kế hoạch và đầu tư cho rằng căn cứ để Sở ban hành hai Giấy xác nhận là trái với pháp lệnh thi hành án dân sự do nội dung của Văn bản này không đúng (vượt), không có trong  nội dung của Quyết định Trọng tài vụ kiện 20/06 ngày 30/12/2006 và công văn này ban hành không có căn cứ  khi Hội đồng quản trị Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn chưa tiến hành các cuôc họp theo đúng trình tự, thủ tục đã được quy định theo Điều 8 của Điều lệ liên doanh.

c) Việc  Sở Kế hoạch và Đầu tư căn cứ vào Văn bản đề nghị số 63/07 ngày 03/12/2007 và hồ sơ đính kèm nộp ngày 05/12/2007, ngày 10/12/2007 ngày 21/12/2007 của Công ty Liên  doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn là những văn bản bất hợp pháp do công ty  Madarin Hong Kong đã chấm dứt tồn tại từ ngày 02/7/1991 thì không thể nào có văn bản đề nghị số 10/07 ngày 05/11/2007 và hồ sơ đính kèm nộp ngày 07/11/2007 của công ty Madarin; còn công ty Madarin Hong Kong do ông Lui Kwong Wah mới đăng ký lại vào năm 2007 thì đăng ký sau ngày  phát hành những văn bản này, đồng thời đây không phải là công ty Madarin HongKong tham gia giải quyết theo tố tụng trọng tài.

Từ những căn cứ trên ông Lui Lik Chee và bà Kwong Po Ping  và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện yêu cầu Tòa hủy hai Giấy xác nhận Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đã xác nhận.

Về phía người bị kiện – Ông Hà Hữu Trí  đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Sở  Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

Sở Kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên hai Giấy xác nhận đã ban hành mà phía người khởi kiện đã khởi kiện. Về căn cứ pháp lý để ban hành hai Giấy xác nhận này, đã được Sở xác định theo văn bản 1996/SKHĐT-DN ngày 08/4/2008 gửi cho Tòa án thành phố Hồ Chí Minh do đó tại phiên Tòa, đại diện người bị kiện chỉ trình bày bổ sung 1 số ý kiến như sau:

– Sở Kế họach và đầu tư thừa nhận khi nhận được đơn khiếu nại của ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping về hai Giấy xác nhận do Sở ban hành nhưng  Sở chậm giải quyết đơn khiếu nại theo quy định của luật Khiếu nại và Tố cáo là thiếu sót, thiếu sót này do nguyên nhân khách quan vì công việc nhiều, biên chế giải quyết công việc thì ít, thời gian giải quyết  khiếu nại lại nhanh. Tuy không ban hành văn bản giải quyết khiếu nại cho ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping, nhưng khi nhận được đơn khiếu nại Sở đã có làm việc, tiếp xúc với người khiếu nại để nghe ý kiến của người khiếu nại đồng thời Sở  cũng tạo điều kiện trao đổi thông tin, cung cấp cho người khiếu nại những vấn đề có liên quan trong việc ban hành hai Giấy xác nhận;

– Hai Giấy xác nhận được Sở ban hành chỉ có ý nghĩa xác nhận thành phần cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp  theo đề nghị của doanh nghiệp. Giấy xác nhận số 8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007 đã xác định tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Ban điều hành Công ty liên doanh do đó  có nội dung thay thế Giấy xác nhận 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007 và Giấy xác nhận số 1732/GXN-KHĐT ngày 08/5/2003, Giấy xác nhận 7726 chỉ có nội dung thay thế hai thành viên của HĐQT ( không thay đổi tất cả thành viên theo Giấy xác nhận 1732) do đó chỉ có thành viên nào được ghi trong Giấy xác nhận 7726 mới bị thay đổi, các thành viên còn lại của Giấy xác nhận 1732  thì vẫn giữ nguyên, không thay đổi  do đó Giấy xác nhận 7726 không nhất thiết phải ghi “ Giấy này thay thế Giấy 1732 ngày 08/5/2003. Việc luật sư lập luận cho rằng Giấy xác nhận 7726 không ghi Giấy này thay thế Giấy xác nhận 1732 như vậy Giấy xác nhận 1732 vẫn còn hiệu lực tồn tại và như vậy tư cách của ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping vẫn còn tồn tại là không đúng.

– Khi Sở kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh ban hành Giấy xác nhận7726/SKHĐT-DN ngày  30/11/2007 là căn cứ vào văn bản số 849/THA ngày 16/11/2007 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Theo Sở thì văn bản này là điều kiện đủ để ban hành Giấy xác nhận. Khi ban hành Sở chỉ căn cứ vào nội dung của công văn 849 để thực hiện – Sở không yêu cầu hồ sơ xác nhận  phải có biên bản Hội đồng quản trị Công ty liên doanh ăn uống Sài Gòn theo như trình tự, thủ tục đã được quy định tại Điều 8 của Điều lệ liên doanh vì Sở nghĩ rằng yêu cầu cũng không thể thực hiện được do ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping là hai người bị thay thế sẽ không hợp tác thực hiện, thực tế trước khi ban hành Giấy xác nhận, qua công tác quản lý thì Sở cũng đã có nhiều thông tin về sự mâu thuẫn, tranh chấp về vốn, địa vị pháp lý  của Bên nước ngoài trong Công ty liên doanh.

– Căn cứ pháp lý để Sở ban hành Giấy xác nhận 8206  được căn cứ vào các biên bản Hội đồng quản trị công ty liên doanh đã họp ngày 03/12/2007, ngày 18/12/2007  và đã có nội dung thống nhất 100% thay đổi hai thành viên Hội đồng quản trị, thay đổi Tổng Giám đốc. Đại diện người bị kiện giải thích rằng do Giấy xác nhận 7726 ngày 30/11/2007 đã xác nhận tư cách thành viên Hội đồng quản trị của ông Nguyễn Sơn Trà và bà Thái Thị Cẩm Tú do đó  sự tham gia của ông Trà, bà Tú với tư cách thành viên Hội đồng quản trị theo biên bản họp ngày 03/12/2008 và 18/12/2008 là phù hợp với quy định tại Điều 8 Điều lệ liên doanh về trình tự, thủ tục.

– Do ông Lui Kwong Wah có nộp cho Sở kế họach và đầu tư tờ cam kết tuyên thệ của ông có chứng nhận của Tòa án Tối cao Hong Kong để xác định ông là chủ sở hữu duy nhất của Công ty Madarin HongKong – do đó Sở mới chấp nhận đề nghị của ông Wah để  ban hành Giấy xác nhận.

-Các quyết định số 1787/2007/QĐST-KDTM ngày 25/9/2007 và số 970/2007/QĐST-KIDM ngày 13/6/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Quyết định số137/2007/QĐPT-KDTM ngày 26/12/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh;.

Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan trình bày :

Đại diện Công ty  Liên doanh Nhà hàng ăn uống khách sạn Sài Gòn và đại diện Công ty 990 ( ông Trần Mỹ Đãi) trình bày như sau :

– Công ty liên doanh (bên Việt Nam) chỉ chấp nhận việc thay đổi thành viên của Hội đồng quản trị bên nước ngoài khi việc thay đổi được thực hiện  đúng trình tự, thủ tục do pháp luật và  điều lệ liên doanh đã quy định theo nguyên tắc:

“ là người của  bên nào thì bên đó có quyền thay đổi;

 nếu có lý do chính đáng;

không làm ảnh hưởng đến họat động của công ty”.

Việc Sở kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh ban hành hai Giấy xác nhận (nói trên ) là không có căn cứ do:

– Việc thay thế không được tiến hành đúng trình tự, thủ tục đã được pháp luật và điều lệ liên doanh quy định, cụ thể theo điều 8 Điều lệ liên doanh thì việc thay thế thành viên Hội đồng quản trị (ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping) phải được 2/3 thành viên Hội đồng quản trị chấp nhận, thay thế Tổng Giám đốc phải 100% thành viên Hội đồng quản trị chấp nhận. Tại biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 10/7/2007, chỉ có ý kiến cá nhân  của ông Lui Kwong Wah, các thành viên khác không có ý kiến – Ngoài cuộc họp này, Hội đồng quản trị không có cuộc họp nào khác do đó  việc Sở ban hành Giấy xác nhận 7726 là không có căn cứ đúng trình tự, thủ tục đã được Điều lệ liên doanh (vẫn còn hiệu lực  thực hiện) quy định – do đó Giấy xác nhận 7726 ban hành trái pháp luật. (Không thể chấp nhận lý giải của Người bị kiện là bỏ qua yếu tố này vì không thể nào tiến hành họp được theo Điều 8 Điều lệ liên doanh vì người khởi kiện chắc chắn không đồng ý);

– Việc đề nghị thay đổi của bên nước ngoài là không thể thực hiện được do không thỏa mãn điều kiện “không làm ảnh hưởng đến họat động công ty”. Trước khi Sở ban hành Giấy xác nhận, Sở Kế họach và đầu tư đã có rất nhiều thông tin để có căn cứ xác định rằng “Bên nước ngoài đang có mâu thuẫn gay gắt, nghiêm trọng trong nội bộ về vấn đề vốn góp, địa vị pháp lý trong công ty” do đó khi mâu thuẩn này chưa được giải quyết thì không nên thay đổi mà duy trì hiện trạng và giải quyết dứt điểm mâu thuẫn. Sau khi Sở ban hành Giấy xác nhận, lợi dụng việc này bên nước ngoài đã bán toàn bộ tài sản, không thanh tóan lương, các quyền lợi cho những người trong công ty …công ty không họat động được do không có dấu … Chính việc Sở ban hành Giấy xác nhận đã làm cho mâu thuẫn thêm gay gắt, kéo theo những tổn thất thiệt hại  của 1 bên liên doanh là Việt Nam, tuy nhiên trong vụ kiện này với tư cách đại diện cho công ty 990 và 1 bên liên doanh, ông Đãi xác định có khả năng sẽ khởi kiện đối với những quyền lợi bị thiệt hại trong vụ kiện khác.

–  Các biên bản họp ngày 03/12/2007 và 18/12/2007 có sự tham gia của ông Nguyễn Sơn Trà và bà Thái Thị Cẩm Tú, theo ông Đãi không có giá trị thực hiện vì Điều 8 Điều lệ liên doanh “thành phần HĐQT tham gia cuộc họp” là thành viên của Hội đồng quản trị đương nhiệm (trước khi thay đổi). Ông Đãi trình bày các cuộc họp này không có giá trị thực hiện vì khi họp không có sự thống nhất, tự nguyện mà do áp lực của bên nước ngoài.

– Ông Đãi xác định căn cứ vào các tài liệu về việc góp vốn của bà PoPing có chứng kiến của Công ty liên doanh, các phiếu thu tiền góp vốn được thể hiện trong hồsơ, dấu của công ty liên doanh, chữ ký của ông Chủ tịch Hội đồng quản trị, người lập phiếu thu là hòan tòan đúng.

– Công ty Madarin HongKong đã ngưng họat động trước ngày chính thức ký hợp đồng liên doanh nên không có quyền áp đặt thay người; Công ty 99 xác định ông Lui Kwong Wah không phải là chủ sở hữu duy nhất của công ty Madarin HongKong vì việc ông Lui Kwong Wah chuyển nhượng vốn cho bà Kwan Po Ping có sự xác nhận cửa công ty 990, đồng thời việc ông Lui Kwong Wah cho rằng ông là chủ sở hữu duy nhất là trái với các tài liệu do chính ông đã xác lập (văn bản ngày 09/9/1995 và biên bản xác nhận góp vốn lập ngày 14/02/2000 gồm có  05 thành viên);

– Ông Đãi trình bày thêm quyết định hòa giỉai thành trọng tài không rỏ ràng nhưng Sở kế họach đầu tư không yêu cầu những người tham gia tố tụng trọng tài hay cơ quan trọng tài giải thích lại lấy làm căn cứ là thiếu cơ sở, trong quyết định này không xác định thay đổi thành viên Hội đồng quản trị là ai ? cũng không có nội dung thay đổi Tổng Giám đốc do đó việc Sở kế họach đầu tư và chấp hành viên ban hành công văn 849 cho rằng căn cứ Quyết định hòa giải thành trọng tài để ban hành Giấy xác nhận là chủ quan, duy ý chí, áp đặt và trái với quyết định trọng tài.

 Từ những nội dung trên với tư cách đại diện  cho Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn và Công ty 990, ông Trần Mỹ Đãi yêu cầu Tòa hủy hai giấy xác nhận của Sở kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đã ban hànhKhôi phục lại tình trạng ban đầu của Công ty liên  doanh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lui Kwong Wah trình bày:

Giấy xác nhận của Sở kế họach và đầu tư ban hành là có căn cứ đúng pháp luật – đề nghị giữ nguyên. Những căn cứ đó như sau:

– Ông Lui Kwong Wah là chủ sở hữu duy nhất của Công ty Madarin Hong Kong, theo cam kết tuyên thệ của ông Wah được  Tòa án tối cao Hong Kong xác nhận đúng theo pháp luật quốc tế do đó ông Lui Kwong Wah  là chủ sở hữu tài sản duy nhất, thì ông Wah có quyền chỉ định thay đổi thành viên Hội đồng quản trị của  bên nước ngoài, điều này không trái với pháp luật quốc tế;

– Bà Kwan Po Ping và ông Lui Lik Chee không có đóng góp vốn vào công ty Madarin Hong Kong nên không có tư cách gì trong công ty này. Khi ông Lui Kwong Wah ký tên xác nhận phần vốn của công ty Madarin HongKong trong Công ty Food Center or Sai Gon gồm có 05 người, trong đó có phần vốn góp của bà Po Ping và ông Lui Lik Chee  theo văn bản lập ngày 14/02/2000 là do ông Wah bị áp lực của bà Ping. Do đó nay ông Wah đã có thư công bố hủy bỏ việc xác nhận  góp vốn này.

Đối với văn bản do ông Wah lập ngày 09/9/1995 xác định ông và bà Kwan Po Ping là đồng sở hữu trong Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn là do ông Wah nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng, còn trong thực tế bà Po Ping không đóng góp tiền vốn gì cả. Việc ông Wah là chủ sơ hữu duy nhất nên khi bà Po Ping, ông Lui Lik Chee tham gia Hội đồng quản trị là do ông Wah chỉ định cho đủ số lượng người, ông Chee và bà Po Ping không tham gia với tư cách thành viên góp vốn vì các tài liệu hợp đồng khi thành lập liên doanh, ngay từ đầu chỉ có 1 mình ông Wah đứng ra giao dịch với bên Việt Nam, không có sự tham gia nào của bà Po Ping và ông Chee;

– Theo pháp luật quốc tế thì Công ty Madarin Hong Kong có thể ngưng hoạt động trong nước để tham gia đầu tư ở nước ngoài, do đó viêc công ty Madarin Hong Kong, ngưng họat động từ năm 1992 không có nghĩa là công ty phá sản hay giải thể, do đó tư cách của công ty Madarin Hong Kong vẫn còn tồn tại.

– Hợp đồng chuyển nhượng vốn, tuy được công ty liên doanh thừa nhận và ông Lui Kwong Wah cũng thừa nhận là có thực nhưng không có giá trị vì hợp đồng không có ghi ngày tháng, không có ghi số tiền vốn  chuyển nhượng, hợp đồng này chỉ làm trên danh nghĩa mà thôi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên Tòa có ý kến về vụ kiện như sau:

Đơn khởi kiện của  ông Lui Lik Chee và bà Po Ping làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật . Tòa án thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết là đúng theo thẩm quyền được  quy định tại  khoản 2 Điều 12, khoản 6 Điều 11, Điều 30  Pháp lệnh Thủ tục Giải quyết các vụ án hành chính.

Về nội dung khởi kiện, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

Về thẩm quyền tuy pháp luật không có quy định tuy nhiên căn cứ vào ý kiến của Bộ Kế họach và Đầu tư tại công văn số 9087/BKH-KCN&KCX ngày 07/12/2006 thì việc ban hành Giấy xác nhận của Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền;

Về nội dung:

Xét việc Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh ban hành Giấy xác nhận số 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007  và công văn số 849/THA ngày 16/11/2007 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh xác nhận ông Nguyễn Sơn Trà, bà Thái Thị Cẩm Tú là thành viên  Hội đồng quản trị (bên nước ngoài) thay thế cho ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping tuy ông Trà, bà Tú không tham gia góp vốn vào bên nước ngoài nhưng do ông Lui Kwong Wah là chủ sở hữu duy nhất (bên nước ngoài) nên việc chỉ định thay thế là không trái với  Điều 22 Điều lệ liên doanh.

 Tuy công ty Madarin Hong Kong không còn họat động từ năm 1991 – 1992 tại Hong Kong nhưng thực tế vẫn họat động tại Việt Nam với 1 thành viên  chủ sở hữu duy nhất là ông Lui Kwong Wah. Năm 2007 công ty Madarin Hong Kong do ông Wah làm chủ đã đăng ký họat động lại, được Nhà nước chấp nhận do đó ông Wah có quyền chỉ định thay người.

Đối với giấy xác nhận 8206 – Căn cứ vào các biên bản họp Hội đồng quản trị Công ty liên doanh ngày 03/12/2007 và 18/12/2007 với thành viên  Hội đồng quản trị 05 người (Việt Nam hai người – bên nước ngoài ba người gồm ông Wah, bà Tú, ông Trà là người mới được thay đổi theo Giấy xác nhận 7726 ngày 30/11/2007) các biên bản thể hiện  có sự thống nhất 100% trong Hội đồng quản trị, do đó việc Sở căn cứ vào các biên bản này để ban hành Giấy xác nhận 8206 là phù hợp với Điều lệ liên doanh.

Từ những ý kiến trên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện về việc Hủy hai Giấy xác nhận do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành.

          Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra các chứng cứ tại phiên Tòa;

Sau khi nghe các bên đương sự và luật sư trình bày các  ý kiến tranh luận;

Sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án;

XÉT THẤY

          Xét thấy tại phiên Tòa, ông Lui Lik Chee, người khởi kiện đã được Tòa triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt. Bà Kwan Po Ping là mẹ của ông Lui Lik Chee và đồng là người khởi kiện trình bày do ông Lui Lik Chee có công việc nên không thể đến tham gia phiên Tòa theo triệu tập, bà Kwan Po Ping, đề nghị Tòa tiến hành xét xử vắng mặt ông Lui Lik Chee theo đơn của ông Lui Lik Chee. Xét thấy ông Lui Lik Chee đã có các bản  khai, trình bày đầy đủ về các yêu cầu khởi kiện của mình. Việc vắng mặt của ông Lui Lik Chee không làm ảnh hưởng đến việc xem xét yêu cầu khởi kiện của ông, các đương sự khác trong vụ kiện không có ý kiến gì về sự vắng mặt của ông Lui Lik Chee do đó căn cứ  điểm a khoản 5 Điều 43 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006) Tòa tiến hành xét xử vắng mặt ông Lui Lik Chee là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét tại phiên Tòa bà Kwan Po Ping, quốc tịch Trung quốc có nhờ  ông Lương Quan Thạch làm người phiên dịch cho bà, việc ông Thạch tham gia phiên Tòa với tư cách  là người phiên dịch cho bà Po Ping các đương sự khác trong vụ kiện không có ý kiến. Căn cứ  Điều 7 pháp lệnh  thủ tục giải quyết các vụ án hành chính  (2006) có quy địnhtiếng nói, chữ viết dùng trong qúa trình giải quyết vụ án hành chính là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng  tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình và căn cứ khoản 1, 2 Điều 26 Pháp lệnh. Tòa chấp nhận tư cách tham gia tố tụng của ông Lương Quan Thạch là phù hợp với quy định của pháp lệnh.

          Xét thấy Giấy xác nhận số 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007 và Giấy xác nhận  8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007 của Sở Kế Họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh ban hành có nội dung “quyết định hành chính, hành vi hành chính khác liên quan đến họat động kinh doanh, tài chính của thương nhân, hai Giấy xác nhận (nói trên ) được xác định là hành vi hành chính lần đầu , là lọai quyết định, hành vi hành chính  thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính được quy định tại khoản 6 Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục Giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006.

Xét 02 Giấy xác nhận nói trên, ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping đã thực hiện quyền khiếu nại theo quy định tại Điều 31 luật Khiếu nại, Tố cáo tuy nhiên Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh không giải quyết đơn khiếu nại theo quy định tại Điều 36 luật Khiếu nại, Tố cáo; Căn cứ vào biên nhận  nhận “đơn khiếu nại” của Sở Kế họach và Đầu tư  thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Lui Lik Che và bà Kwan Po Ping. Tại phiên Tòa , đại diện người bị kiện xác định  việc không giải quyết khiếu nại là có thực. Do đó căn cứ điểm a  khoản 1 điều 2, khoản 6 Điều 11 , điểm c khoản 2 Điều 12 và điểm a khoản 2 điều 30 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung năm 2006) đơn khiếu  kiện  vụ án hành chính của ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping đã   làm trong thời hạn, đúng trình tự,  thủ tục, và  đúng thẩm quyền đã pháp luật  được quy định.

Xét tại phiên Tòa người khởi kiện và người bị kiện đều xác định tại Giấy xác nhận 8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007, có nội dung thay thế  Giấy xác nhận 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007. Qua thừa nhận của hai bên đã thể hiện Giấy xác nhận 7726 vào thời điểm ngày 21/12/2007 không còn hiệu lực tồn tại do đã bị thay thế. Tuy nhiên tại phiên Tòa, sau khi được giải thích, bà Kwan Po Ping vẫn giữ nguyên  khởi kiện  yêu cầu Tòa hủy  Giấy xác nhận số 7726. Đồng thời đại diện của người bị kiện xác định,  thừa nhận từ Giấy xác nhận 7726 là căn cứ tiếp theo để người bị kiện ban  hành Giấy xác nhận 8206. Do đó căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b mục 6 của Nghị quyết04/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung theo các Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 25/12/1998 và ngày 05/42006 Tòa tiếp tục giải quyết các yêu cầu khởi kiện theo thủ tục chung

Xét  tại phiên Tòa và theo đơn ngày 12/02/2008  người khởi kiện nộp đơn bổ sung   yêu cầu  Tòa triệu tập cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh và  chấp hành viên thuộc cơ quan  Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong việc  đã phát hành văn bản số 849/THA ngày 16/11/2006  tuy nhiên tại phiên Tòa bà Kwan Po Ping xác định trong vụ kiện này bà không có yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự do công văn số 849/THA gây ra cho bà. Do đó trong phạm vi xem xét yêu cầu khởi kiện của Kwan Po Ping và ông Lui Lik Chee không cần thiết phải triệu tập, tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh và chấp hành viên.

·                                 Nhận xét của Hội đồng xet xử về thẩm quyền ban hành Giấy xác nhận của Sở Kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh:

Căn cứ Mục 6 Công văn số 9087/BKH-KCN&KCX ngày 07/12/2006 của Bộ Kế họach và Đầu tư có nội dung như sau:

Pháp luật về Đầu tư và Pháp luật về doanh nghiệp không quy định doanh nghiệp phải đăng ký nhân sự chủ chốt. Tuy nhiên do các pháp luật khác yêu cầu phải có xác nhận thì mới làm các thủ tục liên quan như khắc dấu, làm visa… Nếu nhà đầu tư có nhu cầu thì Sở Kế họach và Đầu tư hoặc Ban quản lý Khu công nghiệp cần xác nhận cho nhà đầu tư”  do vậy việc Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh ban hành  hai  Giấy xác nhận (nói trên) là đúng thẩm quyền đã được quy định;

– Nhận xét  của Hội đồng xét xử về  các căn cứ pháp lý được người bị kiện áp dụng để ban hành hai Giấy xác nhận bị khiếu kiện:

a) Xét tại phiên Tòa  đại diện của người bị kiện cho rằng 1 trong các căn cứ pháp lý để Sở  ban hành 2 Giấy xác nhận nói trên chính là do Quyết định công nhận  Hòa giải thành của Hội Đồng Trọng Tài vụ kiện 20/06 của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam đính kèm biên bản hòa giải thành vụ tranh chấp số 20/06 giữa Công ty Madarin Hong Kong và Công ty 990 (điều kiện cần) và công văn số 849/THA ngày 16/11/2007 của Thi hành án thành phố Hồ Chí Minh về việc thi hành quyết định Trọng tài (điều kiện đủ). Tuy nhiên sau khi Tòa  đối chiếu nội dung của  công văn 849/THA ngày 16/11/2007 với nội dung của Quyết định hòa giải thành ngày 30/11/2006 (kèm theo biên bản hòa giải thành) thì tại Quyết định hòa giải thành và biên bản hòa giải thành đều không có  nội dung “ xác định thay thế thành viên cụ thể nào của Hội đồng quản trị bên nước ngoài và cũng  không có nội dung thay thế Tổng Giám đốc Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống khách sạn Sài Gòn”  do đó việc Sở kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cho rằng đã căn cứ vào hai văn bản này để ban hành hai Giấy xác nhận là không có cơ sở.

b) Ngoài ra  đại diện người bị kiện  cho rằng do công ty Madarin Hong Kong ( ông Lui Kwong Wah) là chủ sở hữu duy nhất bên nước ngoài ( theo tuyên thệ của ông Wah có chứng nhận của Tòa án tối cao tại  Hong Kong và Ma Cao) nên ông Wah có quyền chỉ định thành viên trong Hội đồng quản trị (bên nước ngoài). Xét thấy trình bày này của đại diện người bị kiện là không có cơ sở khi người bị kiện chỉ căn cứ duy nhất vào bản tuyên thệ của ông Wah trong khi qua thừa nhận của đại diện người bị kiện thì trước khi ban hành Giấy xác nhận ,  người bị kiện đã có nhiều thông tin, nhiều tài liệu  về việc cần phải xem xét lại tư cách chủ sở hữu duy nhất của ông Lui Kwong Wah, và  những tài liệu  này  là có cơ sở  tin cây do được chính ông Lui Kwong Wah tự mình xác lập , cụ thể như:

– Văn bản ông  Lui Kwong Wah lập ngày 09/9/1995  để gửi cho Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh,  giám đốc công ty 990 có nội dung :

“ ..Mọi vấn đề pháp lý và thực tế hiển nhiên là bên chủ đầu tư nước ngoài, công ty Madarin Hong Kong là 1 công ty sở hữu duy nhất (sole proprietorship) . Theo luật pháp Hong Kong và theo thiển ý , cũng theo luật pháp Việt nam, tôi và vợ tôi, bà Kwan Po Ping là đồng sở hữu chủ công ty Madarin và hệ qủa tất nhiên là chúng tôi đều là đồng sở hữu trong Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn

 “Hợp đồng sang nhượng cổ phần lập ngày 08/4/1995 giữa ông Lui Kwong Wah và bà Kwan Po Ping có sự xác nhận của công ty 990, công ty liên doanh-  kèm theo các phiếu thu  có nội dung – kể từ ngày 08/4/1995 bà Kwan Po Ping có 31,5% cổ phần trong Công ty liên doanh ( tức 45 %  vốn góp của phía nước ngoài ) Ông Lui Kwong Wah phải giúp bà Kwan Po Ping hòan tất thủ tục sang nhượng cổ phần với các cơ quan, chính quyền Việt Nam cho tới khi bà Kwan Po Ping có tên trong Giấy phép đầu tư.”

Và tại biên bản xác nhận góp vốn phần của Madarin Hong Kong trong công ty liên doanh Nhà hàng ăn uống Sài Gòn (Food Center or SaiGon) lập ngày 14/02/2000 có chữ ký của 05 thành viên gồm ông Lui Kwong Wah, bà Kwan Po Ping, ông Lui Lik Chee, ông Lai Tai, ông Lee Bing đã xác định số tiền Madarin Hong Kong gốp vốn đầu tư trong Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn tại thành phố Hồ Chí Minh là của 05 thành viên ( có tên kể trên);                                                                                                                              

c) Mặt khác qua thừa nhận của người khởi kiện cũng như của ông Lui Kwong Wah thì hiện nay việc tranh chấp trong nội bộ bên nước ngoài về vốn góp trong công ty Madarin HongKong, về khoản tiền vay mượn giữa ông Lui Kwong Wah và bà Kwan Po Ping và các tranh chấp nội bộ giữa hai bên  Tòa án Tối cao đặc khu  Hong Kong đang thụ lý thụ lý giải quyết (sau khi Tòa án tại Việt Nam đình chỉ vụ án không giải quyết do không thuộc thẩm quyền) , do đó  xét thấy tại phiên Tòa , tuy rằng ông Lui Kwong Wah và đại diện theo ủy quyền của ông Wah có trình bày việc ông Lui Kwong Wah đã có thư công bố ngày 15/12/2005 để hủy bỏ thư công bố ngày 06/9/2001, và các tài liệu trước đây ông xác lập có nội dung xác định tư cách đồng sở hữu của bà Kwan Po Ping, ông Lui Lik Chee…, ông Wah cho rằng  các tài liệu nêu trên do ông xác lập không  còn hiệu lực  trong khi bà Kwan Po Ping, ông Lui Lik Chee không thừa nhận nên thư công bố của ông Lui Kwong Wah chỉ là hành vi đơn phương nên không thể xem thư công bố của ông là có giá trị để từ đó  xác định ông là chủ sở hữu duy nhất của Công ty Madarin Hong Kong.

d) Xét  thấy tại phiên Tòa, ông Lui Kwong Wah và đại diện theo ủy quyền của ông trình bày theo luật pháp quốc tế thì doanh nghiệp có thể ngưng họat động trong nước để đầu tư ra nước ngoài, trình bày này của đại diện ông Wah nhằm xác định công ty Madarin Hong Kong hiện nay vẫn còn tồn tại là không có cơ sở vì không phù hợp với  mục A.1 Phần thứ hai – Kết quả thanh tra (trang 3) và mục  A. I, II  Kết luận (trang 18)  của Kết luận thanh tra số 7392/KLĐT-TTr ngày 16/11/2007 của Sở Kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh về tình hình họat động kinh doanh của Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn (Đòan thanh tra theo Quyết định số 094/QĐ-SKHĐT ngày 30/5/2007) đồng thời cũng không phù hợp với văn bản của Cục Thuế vụ gửi cho ông Wah ngày 20/02/2004 (được ông Lui Kwong Wah thừa nhận), văn bản có nội dung “do Công ty Madarin (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số : 0636577-000) vào ngày 02 tháng 7 năm 1991, vì doanh nghiệp này đã ngừng họat động kinh doanh hơn 10 năm. Căn cứ theo Điều 4(4) “Quy định đăng ký kinh doanh” chúng tôi đã xóa bỏ dữ liệu của công ty này trong sổ đăng ký kinh doanh. Vì vậy chúng tôi không thể đáp ứng yêu cầu của ông căn cứ theo Điều 19 “Quy định đăng ký kinh doanh” cấp giấy chứng nhận kiểm tra và phó bản Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp này, hoặc trích lục dữ liệu từ sổ đăng ký”.

 e) Xét thấy  quyết định công nhận hòa giải  thành vụ kiện số 20/06 ngày 30/12/2006 của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam  công nhận biên bản hòa giải thành lập ngày 30/12/2006  tuy tại Điều 2 không xác định việc thay thế hai thành viên  Hội đồng quản trị là thành viên cụ thể nào nhưng Biên bản xác định rỏ việc thay thế hai thành viên Hội đồng quản trị phải được thực hiện theo đúng quy định pháp luật hiện hành, hợp đồng liên doanh và Điều lệ liên doanh Nhà hàng ăn uống Sài gòn, đồng thời tại bản kết luận thanh tra số 7392/KHĐT-TTr ngày 16/11/2007 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh mục IX (trang 30) cũng thể hiện “Giao Phòng doanh nghiệp nước ngoài hướng dẫn và cấp Giấy xác nhận thay đổi thành viên Hội đồng quản trị trong Công ty liên doanh theo đúng quy định của pháp luật, quyết định của Trọng tài Quốc tế.

Căn cứ vào  các nội dung đã viện dẫn trên và qua các nhận xét đã được phân tích tại các phần trên. Xét thấy việc Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh ban hành Giấy xác nhận số 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007, về trình tự, thủ tục thực hiện là chưa phù hợp với Điều 8 của Điều lệ liên doanh khi tại phiên Tòa các đương sự đồng xác định ngoài biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 10/7/2007 ( với ý kiến của cá nhân ông Lui Kwong Wah) thì không còn biên bản nào khác; đồng thời cũng không phù hợp với Điều 22 của Hợp đồng liên doanh vì tại Điều 22 phải thỏa mãn điều kiện “có lý do chính đáng, không ảnh hưởng đến họat động của công ty”, trong khi đó trước khi ban hành Giấy xác nhận, theo thừa nhận của đại diện người bị kiện cho thấy người bị kiện đã biết rỏ những mâu thuẫn đang tồn tại, đang diễn ra trong nội bộ bên nước ngoài, trong liên doanh và đang ảnh hưởng đến họat động của liên doanh.

Đối với Giấy xác nhận 8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007. Xét thấy rại phiên Tòa, đại diện người bị kiện cho rằng căn cứ vào Giấy xác nhận tư cách thành viên Hội đồng quản trị (ông Nguyễn Sơn Trà, bà Thái Thị Cẩm Tú) của Giấy xác nhận 7726 ngày 30/11/2006 do đó các cuộc họp của Hội đồng quản trị ngày 03/12/2007, ngày 18/12/2007 ( có sự tham gia của hai thành viên này ) là đúng thành phần. Do đó các biên bản này được Sở Kế họach và đầu tư làm căn cứ để ban hành Giấy xác nhận 8206 ngày 21/12/2007.

Xét thấy tại kết luận thanh tra (nêu trên) đã nhận xét giữa Điều 22 Hợp đồng liên doanh và Điều 8 Điều lệ liên doanh có sự mâu thuẫn nhau, và tại Mục 6 Công văn số 9087/BKH-KCN&KCX ngày 07/12/2006 của Bộ Kế họach và Đầu tư  khi trả lời về các nội dung có liên quan đến việc thực hiện luật Đầu tư, luật Doanh nghiệp có nội dung : Pháp luật về Đầu tư và Pháp luật về doanh nghiệp không quy định doanh nghiệp phải đăng ký nhân sự chủ chốt. Tuy nhiên do các pháp luật khác yêu cầu phải có xác nhận thì mới làm các thủ tục liên quan như khắc dấu, làm visa… Nếu nhà đầu tư có nhu cầuthì Sở Kế họach và Đầu tư hoặc Ban quản lý Khu công nghiệp cần xác nhận cho nhà đầu tư.

Do pháp luật không có quy định, do đó căn cứ vào văn bản của Bộ Kế họach và Đầu tư đã nêu rỏ  Sở Kế họach và đầu tư khi xác nhận cho doanh nghiệp ( nhà đầu tư) phải xuất phát từ “ nhu cầu của nhà đầu tư” và Sở  “ cần phải xác nhận ”, để nhà đầu tư (doanh nghiệp )làm các thủ tục cần thiết xuất phát từ  “ các văn bản pháp luật khác yêu cầu phải có xác nhận như làm vi sa, khắc dấu,…  ”, do đó trong trường hợp cụ thể tại Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn khi nội dung Hợp đồng liên doanh, và nội dung của Điều lệ liên doanh có mâu thuẫn với nhau tranh chấp bên nước ngoài về vốn, địa vị pháp lý đang được Tòa án Tối cao tại Hong Kong  giải quyết” do vậy việc Sở Kế họach và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy xác nhận là không phù hợp với nội dung văn bản hướng dẫn của Bộ Kế họach và đầu tư.

Đối  với các cuộc họp được Hội đồng quản trị Công ty liên doanh Nhà hàng ăn uống Sài Gòn tổ chức vào tháng 12 . Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

*/ Biên bản  cuộc họp Hội đồng quản trị Công ty liên doanh ngày 03/12/2007 có nội dung “công bố Giấy xác nhận 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007” ;

–  Nghị quyết Hội đồng Quản trị Công ty liên doanh nhà hàng ăn uống Sài Gòn ngày 03/12/2007 có nội dung “Tiếp nhận và thực hiện ngay giấy xác nhận 7726 thay đổi thành viên của Hội đồng quản trị của phía nước ngoài

– Công văn số 63/07 ngày 03/12/2007 của Hội đồng Quản trị  có nội dung “ Thực hiện việc sắp xếp lại việc thay đổi nhân sự tham gia Hội đồng quản trị của phía nước ngoài theo Giấy xác nhận số 7726 ngày 30/11/2007 của Sở Kế họach và đầu tư….kính đề nghị Giám đốc Sở xác nhận việc bổ nhiệm….”

*/. 02 Biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 17/12/2007 có nội dung “bãi  nhiệm chức vụ của ông Lui Lik Chee và bãi nhiệm chức vụ của bà Kwan Po Ping” ( kèm theo hai biên bản là hai nghị quyết);

  Qua nội dung của các cuộc họp  đã được nêu trên, Xét  thấy việc Sở Kế họach và đầu tư  cho rằng những biên bản, những nghị quyết  này là cơ sở pháp lý,  thể hiện sự chủ động đề nghị của doanh nghiệp và Giấy xác nhận của Sở Kế họach và đầu tư chỉ có ý nghĩa Nhà nước ghi nhận quyền tự chủ động quyết định của doanh nghiệp, của nhà đầu tư  là không phù hợp với diễn biến sự việc, và không đúng với trình tự, thủ tục đã được quy định trong Hợp đồng liên doanh, Điều lệ liên doanh.

Từ những nhận xét trên. Xét thấy khiếu kiện của ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping yêu cầu hủy hai Giấy xác nhận số  7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007 và Giấy xác nhận  8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007 của Sở Kế Họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành là có căn cứ  được chấp nhận.

          Về án phí hành chính sơ thẩm:  Ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping  không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm được trả lại là  50.000 đồng (năm mươi ngàn) tiền tạm ứng án phí đã tạm nộp theo hai  biên lai thu số  004384,  quyển 088 ngày 07/3/2008  của Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh;

          Bởi các lẽ  trên;

Căn cứ  điều 2, khoản 6 điều 11 , điều 29,  điều 30  Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006;

Căn cứ điều 27 và khoản 1 điều 30 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về lệ phí, án phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Xử: Chấp nhận đơn  khiếu kiện của ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping về việc hủy hai Giấy xác nhận số 7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007 và Giấy xác nhận  8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007 của Sở Kế Họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh;

Hủy hai Giấy xác nhận số  7726/SKHĐT-DN ngày 30/11/2007 và Giấy xác nhận  8206/SKHĐT-DN ngày 21/12/2007 của Sở Kế Họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành.

2. Về án phí:

Ông Lui Lik Chee và bà Kwan Po Ping không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, được trả lại là 50.000 đồng (năm mươi ngàn) tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 004384 quyển 088 ngày 07/3/2008 của thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Sở Kế họach và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ông Lui Lik Chee vắng mặt thời hạn kháng cáo của ông Chee là 10 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:                                                     TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

– Tòa án nhân dân tối cao;                                 THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

– Viện kiểm sát nhân dân Tp;

– Thi hành án dân sự;

– Các đương sự (để thi hành);

– Lưu.

                                                                  Trương Quế Phượng