Chia thừa kế quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng

Chia thừa kế quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng
5 (100%) 5 votes

Tóm tắt câu hỏi:

Xin chào Luật sư Phạm Law! Tôi có câu hỏi muốn được Luật sư Phạm Law tư vấn như sau: Vợ tôi mới mất không để lại di chúc. Trong quá trình hôn nhân, chúng tôi có cùng nhau mua 3 mảnh đất, xây dựng nhà trên đất và đứng tên trên Sổ đỏ. Chúng tôi có 2 người con, con gái lớn đã lập gia đình và ở nhà chồng, con trai tôi đang học Đại học. Con trai tôi có nói với tôi, trường hợp gia đình tôi sẽ chia thừa kế theo quy định của pháp luật, vì vợ tôi không để lại di chúc. Vậy đề nghị Luật sư tư vấn cho tôi về vấn đề chia thừa kế của gia đình tôi? Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Chia thừa kế quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng

Chia thừa kế quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng

Trả lời:

Xin chào anh! Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi đến hòm thư tư vấn của công ty Luật Phạm Law. Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

  1. Căn cứ pháp lý

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Bộ luật Dân sự năm 2015

2. Nội dung tư vấn

Chia thừa kế đối với tài sản là quyền sử dụng đất là một trong những câu hỏi nhiều lần được gửi đến hòm thư tư vấn pháp luật của công ty Luật PhamLaw. Trên thực tế, việc chia thừa kế tương đối phức tạp, theo đó cần phải xác định xem trường hợp đó sẽ chia thừa kế theo pháp luật hay chia thừa kế theo di chúc (nếu người có tài sản thừa kế có di chúc), những ai là người được hưởng tài sản thừa kế, và tài sản chia thừa kế là loại tài sản gì. Ngoài ra, trường hợp tài sản để thừa kế là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, cần phải xác định tài sản đó có phải la tài sản chung vợ chồng hay không? Cụ thể:

Thứ nhất, trường hợp chia thừa kế theo pháp luật hoặc chia thừa kế theo di chúc

Pháp luật quy định, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; và hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Về nguyên tắc, việc chia di sản thừa kế phải chia theo di chúc, và có thể chia thừa kế theo pháp luật nếu (1) người mất không để lại di chúc, hoặc có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp; (2) cá nhân thừa kế theo di chúc chết trước/cùng thời điểm với người lập di chúc, hoặc cơ quan, tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; (3) người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Điều 630 Bộ luật Dân sự quy định di chúc hợp pháp là di chúc đáp ứng được các điều kiện bao gồm:

“a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật”.

Về mặt hình thức của di chúc, pháp luật hiện hành quy định di chúc phải được lập thành văn bản, có thể công chứng, chứng thực hoặc không. Nếu di chúc vằng văn bản không có người làm  chứng, người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc, trường hợp có người làm chức, người làm chứng phải cùng xác nhận chữ ký của người lập di chúc, và ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc.

Ngoài ra, người lập di chúc có thể lập di chúc miệng nếu hoàn cảnh tính mạng bị cái chết đe dọa không thể lập di chúc bằng văn bản, tuy nhiên, phải có ít nhất 02 người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên và hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Về người làm chứng, hoặc công chứng viên công chứng, chứng thực di chúc không được là người thừa kế; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc; và người làm chứng phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự, có khả năng nhận thức, và làm chủ hành vi.

Nếu trường hợp chia thừa kế theo pháp luật, cần lưu ý về hàng thừa kế, cụ thể quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.

Thứ hai, chia thừa kế đối với tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân

Theo quy định của pháp luật tại Điều 59 và Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng, theo đó, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác thì được áp dụng theo thỏa thuận đó.

Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định của pháp luật về thừa kế, việc phân chia tài sản sẽ được chia bằng hiện vật. Tuy nhiên, đối với tài sản là bất động sản, các bên có thể thỏa thuận chia tài sản theo giá trị, bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật phải thanh toán cho những người còn lại phần giá trị tài sản mà họ được hưởng.

Đối với trường hợp của anh:

Theo như thông tin anh cung cấp, “vợ chồng anh cùng nhau mua 03 mảnh đất”, do đó, chúng tôi xác định 03 mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng anh trừ trường hợp vợ chồng anh có thỏa thuận về việc mảnh đất nào là tài sản riêng của mỗi người.

Trường hợp 03 mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng anh, khi đó, mỗi người sẽ có quyền sử dụng đối với ½ tổng số diện tích của 03 mảnh đất. Do vợ anh mất không để lại di chúc, nên đối với ½ diện tích đất thuộc quyền sử dụng của vợ anh sẽ được chia thừa kế theo pháp luật – chia đều cho anh và 02 người con (thuộc hàng thừa kế thứ nhất), mỗi người 1/3 phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của vợ anh.

Trường hợp anh và vợ anh có thỏa thuận về mảnh đất nào là tài sản riêng của mỗi người. Khi đó, phần diện tích đất là tài sản riêng của vợ anh cũng sẽ được chia thừa kế theo quy định của pháp luật – tức là chia đều làm 03 phần cho anh và 02 người con.

Trên đây là tư vấn của công ty TNHH tư vấn PhamLaw về Chia thừa kế quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng. Nếu khách hàng có bất kỳ thắc mắc hay cần thêm thông tin chi tiết, xin hãy liên hệ với bộ phận tư vấn thủ tục hành chính 1900 của công ty TNHH tư vấn PhamLaw. Để được tư vấn các dịch vụ quý khách hàng vui lòng kết nối tới số hotline: 097 393 8866, chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ. Hãy đến với Công ty Luật Phạm Law để nhận được dịch vụ tốt nhất cho mọi khách hàng.

Rất mong nhận được sự hợp tác của khách hàng!

Trân trọng!

Bình luận - Thắc mắc - Góp ý

thảo luận


Bài viết liên quan cùng chủ đề: