Câu hỏi mới

Khiếu kiện tranh chấp thanh toán nợ từ hợp đồng (Phúc thẩm)

Số hiệu59/2008/KDTM-PT
Tiêu đềBản án số:59/2008/KDTM-PT ngày 07 tháng 3 năm 2008 về việc tranh chấp thanh toán nợ từ hợp đồng
Ngày ban hành07/03/2008
Cấp xét xửPhúc thẩm
Lĩnh vựcKinh tế 

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI

——————

Bản án số:59/2008/KDTM-PT

Ngày 07/03/2008

V/v: thanh toán nợ từ hợp đồng

kinh tế

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc
———————————-H.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Phượng;

Các Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Việt;

Ông Cù Đình Thắng.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn, cán bộ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Ngày 13 tháng 03 năm 2008, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao (48 Lý Thường Kiệt, Hà Nội), xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số76/2007/TLPT-KDTM ngày 28 tháng 11 năm 2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số379/2008/QĐPT-KDTM ngày 27/02/2008 giữa các đương sự

1. Nguyên đơn:

Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang;

Trụ sở: phường Yên Sở, Hoàng Mai, Hà Nội; do bà Nguyễn Thị Hợi (giám đốc) đại diện theo pháp luật, có mặt.

2. Bị đơn:

Công ty Cổ phần Vinaconex 10, nay đổi tên là Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ Vinaconex;

Trụ sở: 320 đường 2-9, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; do ông Võ Quang Đích đại diện theo ủy quyền, có mặt.

Nhân chứng: Ông Lê Văn Trường, có mặt.

NHẬN THẤY

Tại lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thì thấy, Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang và Công ty cổ phần Vinaconex 10 Chi nhánh Hà Nội có ký hợp đồng mua bán vật tư xây dựng theo hợp đồng nguyên tắc, cụ thể như sau:

Ngày 01/3/2005, tại hợp đồng 01, Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang đã bán cho Công ty cổ phần Vinaconex 10 Chi nhánh tại Hà Nội để thi công công trình 30 Trần Bình Trọng cho Bộ Công an, theo biên bản thống kế giao nhận vật tư như sau:

Xi măng 706.2 tấn

Thép các loại 10.045 kg

Đá 242 m3

Cát vàng 402 m3

Cát đen 340 m3

Gạch các loại 97.100 viên

Gạch men 3.240 viên

Còn lại các loại như sơn, chổi, thép buộc, bu lông, ốc vít, keo dính, giấy nháp.

Tổng cộng trị giá 960.052.420 đồng và tiền thi công nhà để xe là 28.477.000 đồng. Tổng cộng công trình này là 988.529.420 đồng. Phía bị đơn – Công ty cổ phần Vinaconex 10 đã trả được 900.000.000 đồng, còn nợ là 88.529.420 đồng.

Hợp đồng số 02 (cùng ngày 01/3/2005), hai bên ký kết mua bán vật tư xây dựng Nhà máy ô tô nông dụng Cửu Long, Hưng Yên cụ thể là: 803 kg thép các loại, xi măng 248 tấn, thép ống 24 cây, tôn 89m2, còn lại là bu lông, ốc vít, que hàn, chổi sơn, dây thép buộc trị giá vật tư 345.500.357 đồng chưa được thanh toán.

Hợp đồng số 05 ngày 08/11/2005, hai bên ký kết mua vật tư sửa chữa công trình số 6 Chu Văn An.

Thép các loại 2.199 kg, xi măng 22 tấn, cát vàng + cát đen là 20m3 còn lại là sơn, ốc vít, dây buộc, keo, chổi, sơn chống dỉ, trị giá là 44.694.500 đồng.

Các hợp đồng trên hai bên thỏa thuận giá cả theo từng thời điểm giao nhận hàng. Thời hạn thanh toán đã ghi, trong thời hạn 30 ngày bên B thanh toán. Nếu quá 71 ngày thì bên B phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, hợp đồng còn thỏa thuận khi tranh chấp do Tòa kinh tế Tòa án Hà Nội giải quyết.

Cho đến nay, tổng cộng 03 hợp đồng phía bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn là 493.574.169 đồng. Số nợ này đại diện cho Công ty cổ phần Vinaconex 10 Chi nhánh tại Hà Nội đã xác nhận nợ ngày 13/2/2007, nhưng cũng chưa thanh toán. Ngày 10/6/2007, nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán trả cho nguyên đơn số nợ trên và tiền lãi suất do chậm thanh toán.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần V 10 cũng thừa nhận, quá trình thực hiện ba hợp đồng còn nợ nguyên đơn số tiền gốc của ba hợp đồng là 493.574.169 đồng, nhưng về tiền lãi đề nghị nguyên đơn xem xét.

Tại bản án số125/2007/KDTM-ST ngày 27/9/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Căn cứ Điều 29; khoản 2 Điều 34; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 36; Điều 58; Điều 131; Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

Căn cứ Điều 50; Điều 55; Điều 300; Điều 301 Luật Thương mại năm 2005.

Nghị quyết 04 ngày 27.5.2003 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí.

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang.

2. Buộc Công ty cổ phần Vinaconex 10 phải có trách nhiệm trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang là 493.574.169 đồng gốc của ba hợp đồng mua bán vật tư xây dựng và lãi suất do chậm thanh toán 183.256.741 đồng. Tổng cộng hai khoản là 676.839.910 đồng.

3. Bác các yêu cầu khác của đương sự.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thảm ngày 30/10/2007 Công ty cổ phần Vinaconex 10 nhận được bản án sơ thẩm và có đơn kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm, đề nghị xét xử phúc thẩm lại.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện cho bị đơn chỉ chấp nhận thanh toán số tiền theo hợp đồng số 05 ngày 08/11/2005 (Công trình số 6 Chu Văn An) cho nguyên đơn với số tiền 44.694.500 đồng, không chấp nhận thanh toán khoản tiền nợ của hợp đồng số 01 và 02 ngày 01/3/2005 của Công ty cổ phần Vinaconex 10 Chi nhánh tại Hà Nội với Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang vì cho rằng các hợp đồng trên ký kết khi chưa đăng ký kinh doanh và không được giám đốc Công ty ủy quyền. Tuy nhiên đại diện cho bị đơn cũng thừa nhận đã thanh toán qua tài khoản cho nguyên đơn số tiền 900.000.000 đồng theo thông báo của Chi nhánh về các khoản tiền của các hợp đồng trên.

Đại diện của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang xác định đã cung cấp vật tư cho Công ty cổ phần Vinaconex 10 Chi nhánh tại Hà Nội theo ba hợp đồng số 01, 02 ngày 01/3/2005, hợp đồng số 05 ngày 08/11/2005 để xây dựng ba công trình là: 30 Trần Bình Trọng, nhà máy ô tô nông cụ Cửu Long, Hưng Yên và số 06 Chu Văn An. Các công trình này đã hoàn thành, được chủ đầu tư nghiệm thu. Bị đơn đã được hưởng lợi từ các công trình trên và thực tế đã thanh toán qua tài khoản Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại tổng hợp Hương Giang số tiền 900.000.000 đồng, đề nghị được thanh toán nốt số tiền còn nợ và tính lãi như đã cam kết trong hợp đồng.

Xét thấy: về hợp đồng kinh tế số 01 và 02 ký kết ngày 01/3/2005 để mua bán vật tư xây dựng, thi công giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang với Công ty cổ phần Vinaconex 10 Chi nhánh Hà Nội là thực tế. Tại phiên tòa bà Hợi và ông Trường đều xác nhận khi ký hợp đồng thì Công ty cổ phần Vinaconex 10 Chi nhánh tại Hà Nội chưa có con dấu, sau này mới đóng dấu sau. Ông Lê Văn Trường trước đó được bổ nhiệm quyền giám đốc Chi nhánh Công ty xây dựng 10 tại Hà Nội từ ngày 23/4/2004.

Mặc dù đến ngày 15/4/2005 Công ty cổ phần Vinaconex 10 mới có quyết định thành lập Chi nhánh tại Hà Nội và ngày 24/5/2005 Công ty mới có giấy phép đăng ký kinh doanh (do có sự thay đổi lại tên của công ty), nhưng từ đó cho đến thời điểm hiện nay Công ty cổ phần Vinaconex 10 vẫn hoạt động bình thường. Sau khi hai hợp đồng trên được ký kết thì công ty đã thanh toán nhiều lần cho nguyên đơn với tổng số tiền là 900.000.000 đồng. Điều đó thể hiện Giám đốc Công ty cổ phần Vinaconex 10 đã biết và đồng ý chuyển tiền theo hóa đơn (BL 44 đến 86) từ ngày 20/5/2005 đến 12/4/2006 (các chứng từ chuyển tiền của Công ty cổ phần Vinaconex 10 trả cho nguyên đơn tại Ngân hàng thể hiện tại bút lục từ 111 đến 116, thời gian từ 24/4/2005 đến ngày 21/12/2005). Như vậy các hợp đồng kinh tế số 01 và 02 ngày 01/3/2005 nêu trên không phải là vô hiệu như ý kiến của đại diện cho bị đơn.

Tại công văn của giám đốc Công ty cổ phần Vinaconex 10 ngày 11/6/2007 có nội dung: Công ty cổ phần Vinaconex 10 xác nhận nguyên đơn đã cung cấp vật tư cho các công trình như: xí nghiệp lắp ráp ô tô nông cụ Hưng Yên, công trình nhà làm việc của tổng cục hậu cần, nhà số 6 Chu Văn An cho ông Lê Văn Trường (đội trưởng đội xây dựng số trực tiếp thi công).Công ty chúng tôi rất coi trọng việc cung cấp vật tư của quý công ty đảm bảo kịp thời thi công công trình, đề nghị nguyên đơn cung cấp tài liệu để giải quyết (BL 110). Như vậy giám đốc Công ty cổ phần Vinaconex 10 đã xác nhận việc xây dựng, thi công các công trình trên là thực hiện nhiệm vụ của Công ty (pháp nhân) và nhất trí trách nhiệm trả nợ. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện cho bị đơn cũng thừa nhận, các công trình theo ba hợp đồng trên là công việc của Công ty cổ phần Vinaconex 10. Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật dân sự thì Công ty (pháp nhân) phải trả nợ cho nguyên đơn là đúng pháp luật.

Tại biên bản hòa giải vào các ngày 08/8/2007, ngày 13/8/2007 đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều xác nhận số nợ gốc của ba hợp đồng là 493.574.169 đồng và chỉ đề nghị miễn, giảm lãi suất nhưng nguyên đơn không nhất trí (bút lục 176, 179, 182, 183).

Từ các căn cứ nêu trên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc Công ty cổ phần Vinaconex 10 phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ của cả ba hợp đồng với số tiền gốc là 493.574.169 đồng, lãi là 183.265.741 đồng là phù hợp pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện cho nguyên đơn có đề nghị được tính lãi tiếp trong khoảng thời gian từ thời điểm xét xử sơ thẩm đến khi xét xử phúc thẩm nhưng không có căn cứ để chấp nhận.

Từ những nhận định trên, áp dụng khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ Vinaconex. Giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Áp dụng Điều 92 Bộ luật dân sự. Điều 50, Điều 55 Luật Thương mại

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang.

2. Buộc Công ty cổ phần Vinaconex 10 (nay là Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ V) trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang số tiền gốc của ba hợp đồng mua bán vật tư xây dựng là 493.574.169 đồng và lãi suất do chậm thanh toán là 183.265.741 đồng. Tổng cộng là 676.893.910 đồng (sáu trăm bảy mươi sáu triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn, chín trăm mười đồng).

3. Bác các yêu cầu khác của đương sự.

4. Án phí sơ thẩm kinh doanh thương mại Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ Vinaconex phải nộp là 18.352.000 đồng.

Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại tổng hợp Hương Giang được hoàn lại dự phí đã nộp là 10.925.000 đồng (mười triệu chín trăm hai mươi lăm ngàn đồng chẵn) tại biên lai số 002616 ngày 04/7/2007 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, Công ty cổ phần xây dựng dịch vụ Vinaconex phải nộp 200.000 đồng tại biên lai thu tiền số 007452 ngày 15/11/2007 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

Trần Ngọc Việt Cù Đình Thắng

(Đã ký) (Đã ký)

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Phượng

(Đã ký)