Câu hỏi mới

Bản án tranh chấp hợp đồng bốc xúc, vận chuyển đất đá và than (Phúc thẩm)

Số hiệu24/2008/KDTM-PT
Tiêu đềBản án tranh chấp hợp đồng bốc xúc, vận chuyển đất đá và than
Ngày ban hành24/01/2008
Cấp xét xửPhúc thẩm
Lĩnh vựcKinh tế

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI

——————

Bản án số:24/2008/KDTM-PT

Ngày 24/01/2008

V/v: tranh chấp hợp đồng bốc xúc, vận chuyển đất đá và than.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc
———————————-N.8

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vân;

Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Liên;

Bà Hà Thị Xuyến.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Sen, cán bộ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Ngày 24 tháng 11 năm 2008, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số73/2007/TLPT-KT ngày 19 tháng 11 năm 2007 về việc tranh chấp Hợp đồng bốc xúc, vận chuyển đất đá và than.

Do bản án dân sự sơ thẩm số09/2007/KDTM-ST ngày 02-10-2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số3808/2007/KDTM-QĐ ngày 21 tháng 12 năm 2007 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc; Địa chỉ: số nhà 5, tổ 5, khu 11, phường Thanh Sơn, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Quang Kiều – Giám đốc Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc; có mặt.

* Bị đơn: Công ty than Hạ Long – Thuộc tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam; Trụ sở: phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Vũ Văn Điền; Trú tại: tổ 13, khu 3, phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là Giám đốc Xí nghiệp than Hà Ráng; có mặt.

NHẬN THẤY

Theo Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc (Sau đây gọi tắt là Công ty Quảng Phúc) trình bày: Giữa Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc và Xí nghiệp than Hà Ráng – công ty than Hạ Long đã ký kết hợp đồng số 37 ngày 09-5-2006 với nội dung: Xí nghiệp than Hà Ráng thuê Công ty Quảng Phúc theo “Hợp đồng thuê khoan, bốc xúc, vận chuyển đất đá và than tại khu vực V11-H2655” theo thông báo trúng thầu số1114/TB-KHVT ngày 02-5-2006 của Công ty than Hạ Long. Theo đó tổng giá trị của hợp đồng là 4.446.800.000 đồng; thời gian thi công từ ngày 05-5-2006 đến hết ngày 30-7-2006. Sau khi ký, Công ty Quảng Phúc đã tiến hành thi công theo hợp đồng, cụ thể trong tháng 5 và tháng 6 năm 2006 đã đạt giá trị sản lượng là 1.333.506.739 đồng. Tháng 7-2006 đạt giá trị sản lượng là 59.525.164 đồng. Trong quá trình thực hiện Xí nghiệp than Hà Ráng cắt điện ngày chủ nhật hàng tuần, không tổ chức nghiệm thu và cho đến nay không thanh toán trả toàn bộ số tiền nêu trên và 100.000.000 đồng (tiền bảo lãnh thầu), tổng cộng là 1.493.031.903 đồng.

Theo Xí nghiệp than Hà Ráng trình bày: xí nghiệp đã ký hợp đồng và tạo mọi điều kiện để công ty Quảng Phúc thực hiện hợp đồng nêu trên. Nhưng thực tế Công ty Quảng Phúc không đủ khả năng thực hiện hợp đồng đã ký kết, đó là thiếu thiết bị, thiếu tiền nộp tiền bảo lãnh hợp đồng. Nên mới chỉ thi công bốc xúc được 6.567,4 m3 tương đương với giá trị 161.408.199 đồng (Nhưng theo số liệu của Công an tỉnh Quảng Ninh thì công ty Quảng Phúc mới chỉ thực hiện được 5.197 m3 đất đá, 515 tấn than, khoan lỗ mìn 499,1 m và san gạt bãi thải là 1.299,3 m3 ). Tổng giá trị thực hiện là 132.910.651 đồng và cũng mới nộp được 100 triệu đồng/222 triệu đồng tiền bảo lãnh hợp đồng. Xí nghiệp đã nhiều lần mời Công ty Quảng Phúc đến để tổ chức nghiệm thu, nhưng Công ty Quảng Phúc dây dưa không tiến hành nghiệm thu, nên không có cơ sở để thanh toán. Mặt khác do Công ty Quảng Phúc không thực hiện được đúng các cam kết theo hợp đồng, còn gây thiệt hại cho xí nghiệp (nhưng về phía xí nghiệp không có yêu cầu phản tố). Ngoài ra, xí nghiệp than Hà Ráng còn giải trình: tại tờ trình số 2302 ngày 31-7-2006 gửi Giám đốc Công ty than Hạ Long và biên bản họp này 10-8-2006 ghi nhận đến hết tháng 6-2006 Công ty Quảng Phúc đã bốc xúc vận chuyển được 62.939 m3 đất đá, bằng 32% khối lượng gói thầu. Nhưng thực tế phần lớn khối lượng này được thi công trong khi chờ duyệt thầu, do Công ty trách nhiệm hữu hạn Tây Bắc, Phú Thọ thực hiện, mà không phải Công ty Quảng Phúc thực hiện. Về việc này, Công ty Phú Thọ cũng khẳng định đã thực hiện 56.372 m3 tại V11-H2655 trong thời gian từ ngày 17-3-2006 đến ngày -2-5-2006 là thời gian chờ kết quả thầu.

Từ những căn cứ như trên, tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số09/2007/KDTM-ST ngày 02-10-2007 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã quyết định:

– Áp dụng các Điều 61, 62, 64 Luật Đấu thầu năm 2005;

– Áp dụng các Điều 95, 107, 108, 109, 110 Luật Xây dựng năm 2003;

– Áp dụng các Điều 44, 45, 46, 47 Nghị định16/2005/NĐ-CP ngày 07-02-2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.

– Căn cứ thông tư liên tịch số01/TT-LT ngày 19-6-1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn xét xử và thi hành án về tài sản;

– Căn cứ hợp đồng kinh tế số 37 ngày 09-5-2006 giữa Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc và Xí nghiệp than Hà Ráng đã ký kết và tình hình thực hiện hợp đồng (được sự ủy quyền của bị đơn);

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc:

– Buộc bị đơn – Công ty than Hạ Long phải thanh toán trả cho nguyên đơn – Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc số tiền là 136.533.206,5 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu, năm trăm ba mươi ba nghìn, hai trăm linh sáu phẩy năm đồng).

Bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn có yêu cầu, nếu bị đơn chậm thanh toán trả, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất chậm trả bằng lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

– Căn cứ Nghị định 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ quy định về án phí:

+ Nguyên đơn – Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc phải nộp 14.493.032 đồng (mười bốn triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn, không trăm ba mươi hai đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm (Đã nộp tạm ứng án phí 6.000.000 đồng).

+ Bị đơn – Công ty than Hạ Long phải nộp 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08-10-2007 Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc kháng cáo với nội dung: kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn là Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận khối lượng đất đá mà Công ty đã bốc xúc, đồng thời buộc nguyên đơn phải chịu phạt 50.000.000 đồng tiền cược và bồi thường cho bị đơn số tiền 13.230.000 đồng tiền sửa cổng chào do ô tô húc đổ là không có căn cứ, gây thiệt hại cho nguyên đơn.

Còn phía bị đơn là Công ty than Hạ Long thì cho rằng: Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc không đủ năng lực thi công gói thầu như đã cam kết nên phía bị đơn mới đình chỉ việc thực hiện hợp đồng, phạt tiền đặt cược đối với nguyên đơn. Cho đến khi đình chỉ việc thực hiện hợp đồng thì bên Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc mới bốc xúc được 9.833 m3đất đá và bốc xúc, vận chuyển được 515 tấn than, chứ không phải là 62.939 m3 đất đá và 515 tấn than như phía nguyên đơn nêu ra. Ngoài ra khi thi công thì xe ô tô chở than cho Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc đã đâm đổ cổng chào của Xí nghiệp than Hà Ráng, Công ty than Hạ Long trị giá 13.230.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử như vậy là đúng.

Nhưng căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ thì thấy:

Khi thụ lý Tòa án cấp sơ thẩm đã báo cho phía bị đơn biết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bị đơn không có yêu cầu phản tố, mà Tòa án cấp sơ thẩm lại xem xét và chấp nhận yêu cầu của bị đơn phạt vi phạm hợp đồng trừ tiền cược và bắt nguyên đơn phải bồi thường cổng chào cho bị đơn là vi phạm thủ tục tố tụng.

Về xác định khối lượng công việc đã thực hiện theo hợp đồng và xác định giá trị buộc các bên phải thanh toán cho nhau thì thấy: Khi chấm dứt và thanh lý hợp đồng hai bên không tiến hành nghiệm thu được với nhau để xác định khối lượng thực tế đã thi công. Phía nguyên đơn và bị đơn đều xuất trình nhiều tài liệu thể hiện khối lượng đã thi công không thống nhất với nhau. Bên nguyên đơn thì xuất trình tài liệu là đã thi công bốc xúc và vận chuyển được 62.939 m3 đất đá và 515 tấn than trị giá 1.493.031.903 đồng (Bút lục 05, 06, 07). Còn phía bị đơn xuất trình nhiều tài liệu nhiều số liệu khác nhau như có tài liệu số đo của Công an tỉnh Quảng Ninh là 5197 m3 (bút lục 136) có tài liệu lại thể hiện hai bên xác nhận khối lượng thi công với nhau (các bút lục 223, 224, 234) thì Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc thực hiện bốc xúc vận chuyển đất đá là:

Tháng 5-2006 là 9.750 m3

Tháng 6-2006 là 2.760 m3

Tháng 7-2006 là 2.2240 m3

Và bốc xúc, vận chuyển được 515 tấn than.

Nhưng cũng có tài liệu thể hiện là Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc đến hết tháng 6 năm 2006 đã thi công được 63.000 m3 đất đá (biên bản kiểm điểm thi công giữa hai bên và báo cáo tốc độ của Xí nghiệp than Hà Ráng) tài liệu này cũng có xác nhận của các Phòng ban của Công ty than Hạ Long, vì vậy cần làm rõ số liệu nào là chính xác. Trong khi đó, để thực hiện hợp đồng số 37 thì Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc đã ký với hai đơn vị là Công ty cổ phần phát triển Miền Bắc và Công ty trách nhiệm hữu hạn khai thác và xây dựng Thăng Long là B’ cho mình để thi công. Ngoài ra còn có Công ty trách nhiệm hữu hạn Tây Bắc Phú Thọ cũng tham gia bốc xúc đất đá ở gói thầu này mà Tòa án cấp sơ thẩm lại không xem xét tham khảo tài liệu hồ sơ thi công của các đơn vị này đồng thời không tổ chức cho các đơn vị có liên quan như bên giao thầu, nhận thầu và thi công đối chiếu số liệu với nhau để làm căn cứ giải quyết là chưa đầy đủ. Mặt khác sau khi thực hiện hợp đồng nói trên, Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc và Công ty cổ phần phát triển Miền Bắc đã xảy ra tranh chấp, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại quyết định số01/2007/QĐST-KDTM ngày 11-01-2007 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã công nhận Công ty cổ phần phát triển Miền Bắc đã bốc xúc được 11.833 m3 đất đá (bút lục 275, 276, 277) nhưng tại bản án sơ thẩm số09/2007/KDTM-ST này 02-10-2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh lại chỉ công nhận Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc chỉ bốc xúc được 9.833 m3 đất đá, là hai vụ án của một Tòa án giải quyết cùng một vụ việc lại có số liệu khác nhau mà không làm rõ tại sao lại như vậy là thiếu thuyết phục.

Để có cơ sở giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích của các bên thì cần phải thu thập thêm chứng cứ là các tài liệu thi công của các đơn vị trực tiếp thi công. Đồng thời yêu cầu các bên đối chiếu số liệu với nhau để có cơ sở xác định khối lượng thi công thực tế mà Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc đã thi công.

Do việc thu thập chứng cứ và chứng minh của Tòa án cấp sơ thẩm chưa đầy đủ nên cần phải hủy bản án sơ thẩm để giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 275 và khoản 1 Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số09/2007/KDTM-ST ngày 02-10-2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Công ty cổ phần xây dựng Quảng Phúc không phải chịu án phí kinh tế phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

Trần Trọng Liên Hà Thị Xuyến

(Đã ký) (Đã ký)

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Vân

(Đã ký)