Câu hỏi mới

Ngân hàng khởi kiện đòi hoàn trả vốn vay, thanh toán lãi phát sinh và phát mãi tài sản cầm cố (sơ thẩm)

Số hiệu1084/2007/KDTM-ST
Tiêu đềNgân hàng khởi kiện đòi hoàn trả vốn vay, thanh toán lãi phát sinh và phát mãi tài sản cầm cố
Ngày ban hành27/06/2007
Cấp xét sửSơ thẩm
Lĩnh vựcKinh tế

>>> Dịch vụ kế toán thuế

Về yêu cầu của nguyên đơn đòi số tiền nợ vốn vay và lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng  được thể hiện trong Khế ước nhận nợ và các chứng từ phiếu thu của ngân hàng. Do đó, yêu cầu đòi nợ này của nguyên đơn là chính đáng nên được chấp nhận.

Về yêu cầu tính lãi suất đối với hợp đồng tín dụng của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy thời gian tính lãi, mức lãi suất (trong hạn, quá hạn) mà ngân hàng đã áp dụng phù hợp thỏa thuận trong hợp đồng và qui định của pháp luật. Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn có cơ sở được chấp nhận.

Về yêu cầu phát mãi tài sản là xe ô tô TOYOTA ZACE-GL, số máy 7K- 0791354, số khung KF3- 6914545, biển số 52Y 5435 theo Hợp đồng cầm cố tài sản đã được hai bên đăng ký theo qui định. Bị đơn cũng xác định hiện nay không có khả năng thanh toán nợ nên yêu cầu của nguyên đơn đòi phát mãi tài sản cầm cố là có cơ sở được chấp nhận.

Bản án số:1084/2007/KDTM-ST ngày 27-6-2007

v/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

Vào ngày 27 tháng 6 năm 2007 tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số412/2006/TLST-KDTM ngày 23/6/2006 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1088/2007/QĐST – KDTM ngày 20 tháng 6 năm 2007, giữa các đương sự:

Nguyên đơn NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á

Địa chỉ 16 Láng Hạ Hà nội

Địa chỉ Chi nhánh tại TPHCM: 28A Lê Lợi, Phường Bến Nghé, Quận 1

Đại diện Ông Nguyễn Mạnh Hùng, GUQ ngày 22/4/2006 (có mặt)

Bị đơn 1- Bà TRẦN THỊ MỸ

Địa chỉ 1070 Kha Vạn Cân, Q. Thủ Đức, TPHCM (vắng mặt)

2- Ông NGUYỄN VĂN TÙNG

Địa chỉ 433 Lê Quang Sung, P. 9, Q. 6, TPHCM

ĐCLL 1070 Kha Vạn Cân, Q. Thủ Đức, TPHCM (vắng mặt)

NHẬN THẤY:

Trình bày của nguyên đơn:

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, buộc bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng thanh toán cho Ngân Hàng TMCP Đông Nam Aù số tiền số tiền 311.416.903 đồng, gồm:

– Nợ Vốn vay: 264.700.000 đồng

– Nợ lãi phát sinh (tạm tính đến 27-6-2007) : 46.716.903 đồng

Trường hợp bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng không thanh toán được nợ thì đề nghị phát mại tài sản là chiếc xe ô tô TOYOTA ZACE-GL, số máy 7K- 0791354, số khung KF3- 6914545, biển số 52Y 5435 theo Hợp đồng cầm cố tài sản số 10075/HĐCC ngày 12/9/2005, xác nhận của Phòng Công chứng số 1 TPHCM số 23819 ngày 02/9/2005 để trả nợ.

Căn cứ đòi nợ:

Bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng vay vốn tại Ngân Hàng TMCP Đông Nam Aù theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số10075/HĐTD-TDH ngày 26-8-2005, cụ thể :

– số tiền vay : 320.000.000 đồng,

– mục đích vay : mua xe ô tô TOYOTA ZACE-GL

– lãi suất trong hạn : 1,05%/tháng

– thời hạn vay : 36 tháng.

Để đảm bảo cho khỏan nợ vay trên, bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng đã thế chấp chiếc xe ô tô TOYOTA ZACE-GL, số máy 7K- 0791354, số khung KF3- 6914545, biển số 52Y 5435 theo Hợp đồng cầm cố tài sản số 10075/HĐCC ngày 12/9/2005, xác nhận của Phòng Công chứng số 1 TPHCM số 23819 ngày 02/9/2005.

Thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã giải ngân cho ông Tùng và bà Mỹ số tiền 320.000.000 đồng.

Tính đến ngày 27-6-2007, bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 311.416903 đồng, gồm:

– Vốn vay 264.700.000 đồng

– Lãi lãi phát sinh tính đến 27-6-2007 là 46.716.000 đồng

Do ông Tùng và bà Mỹ vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn nên ngân hàng đã chuyễn khỏan vay trên sang nợ quá hạn. Ngân hàng cũng đã nhiều lần đôn đốc thu hồi nợ vay nhưng đến nay bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết.

Trình bày của Bị đơn

1- Bà Trần Thị Mỹ :

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/01/2007 của TAND TPHCM, bà Trần Thị Mỹ xác nhận về việc ký kết Hợp đồng tín dụng số10075/HĐTD-TDH ngày 26-8-2005 với Ngân Hàng TMCP Đông Nam Aù. Hiện nay đang khó khăn nên chưa có khả năng thanh toán cho Ngân hàng và đề nghị Ngân hàng xem xét tiền lãi phát sinh.

2- Ông Nguyễn Văn Tùng :

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 03/01/2007 của TAND TPHCM có xác nhận của UBND Phường Linh Chiểu – Quận Thủ Đức – TPHCM, ông Nguyễn Văn Tùng không có ý kiến gì về việc đòi nợ của ngân hàng và uỷ quyền cho bà Mỹ về mọi việc có liên quan đến vụ án.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1- Về quan hệ đang tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ kiện:

Nội dung tranh chấp giữa Ngân Hàng TMCP Đông Nam Aù với bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng là hợp đồng tín dụng. Đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại. Căn cứ vào Điều 29 và Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.

Bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập dự hòa giải vào các ngày 05/10/2006, ngày 26/12/2006, ngày 08/01/2007, ngày 15/01/2007 và xét xử vào ngày 22/5/2007 và ngày 27-6-2007 theo qui định của pháp luật nhưng vẫn không đến tham dự phiên tòa được triệu tập lần 2. Căn cứ khoản 2 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định phiên tòa vẫn được tiến hành.

2. Về yêu cầu của nguyên đơn

Về yêu cầu của Ngân Hàng TMCP Đông Nam Aù, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về yêu cầu của nguyên đơn đòi số tiền nợ vốn vay và lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng10075/HĐTD-TDH ngày 26-8-2005 : số nợ này được thể hiện trong Khế ước nhận nợ và các chứng từ phiếu thu của ngân hàng. Do đó, yêu cầu đòi nợ này của nguyên đơn là chính đáng nên được chấp nhận.

Về yêu cầu tính lãi suất đối với hợp đồng tín dụng số10075/HĐTD-TDH ngày 26-8-2005 của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy thời gian tính lãi, mức lãi suất (trong hạn, quá hạn) mà ngân hàng đã áp dụng phù hợp thỏa thuận trong hợp đồng và qui định của pháp luật. Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn có cơ sở được chấp nhận.

Về yêu cầu của nguyên đơn về việc phát mãi tài sản là xe ô tô TOYOTA ZACE-GL, số máy 7K- 0791354, số khung KF3- 6914545, biển số 52Y 5435, Hội đồng xét xử có nhận định như sau:

Hợp đồng cầm cố tài sản số 10075/HĐCC ngày 12/9/2005 đã được hai bên ký và đăng ký theo qui định. Bị đơn cũng xác định hiện nay không có khả năng thanh toán nợ nên yêu cầu của nguyên đơn đòi phát mãi tài sản cầm cố là xe ô tô TOYOTA ZACE-GL, số máy 7K- 0791354, số khung KF3- 6914545, biển số 52Y 5435 là có cơ sở được chấp nhận.

3.Về án phí

Bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho Ngân Hàng TMCP Đông Nam Aù.

Ngân Hàng TMCP Đông Nam Aù được nhận lại toàn bộ tạm ứng án phí đã nộp.

Từ các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ qui định về án phí, lệ phí tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

Bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á số tiền311.416.903 đồng, gồm :

– Vốn vay còn nợ 264.700.000 đồng

– Lãi phát sinh tính đến ngày 27-6-2007 là 46.716.903 đồng

Bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 28-6-2007 đến 31-12-2007, mức 1,71%/tháng trên số vốn vay chưa thanh toán.

Nếu đến hết ngày 31-12-2007 mà bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng chưa thanh toán xong nợ thì tiếp tục phải chịu lãi suất được điều chỉnh 01 lần vào ngày 31-12 hàng năm và bằng lãi suất huy động tiết kiệm 12 tháng loại trả lãi sau của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 0.35%/tháng nhưng không thấp hơn 1.05%/tháng.

Trường hợp bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng không thanh toán được nợ thì phát mại tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô TOYOTA ZACE-GL, số máy 7K- 0791354, số khung KF3- 6914545, biển số 52Y 5435 theo Hợp đồng cầm cố tài sản số 10075/HĐCC ngày 12/9/2005, xác nhận của Phòng Công chứng số 1 TPHCM số 23819 ngày 02/9/2005 để trả nợ cho ngân hàng.

2. Về án phí:

Bà Trần Thị Mỹ và ông Nguyễn Văn Tùng phải chịu án phí là 12.342.000 đồng.

Do không phải chịu án phí nên Ngân hàng TMCP Đông Nam Á nhận lại toàn bộ tạm ứng án phí đã nộp là 6.038.412 đồng theo Biên lai thu tiền số 002316 ngày 14-6-2006 của Thi hành án dân sự TPHCM.

Việc thi hành án được thực hiện tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.