Câu hỏi mới

Tranh chấp về việc Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu Bách khoa N.V.C không thực hiện hợp đồng gia công (sơ thẩm)

Số hiệu1314/2007/KDTM-ST
Tiêu đềTranh chấp về việc Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu Bách khoa N.V.C không thực hiện hợp đồng gia công
Ngày ban hành26/07/2007
Cấp xét sửSơ thẩm
Lĩnh vựcKinh tế

Thời gian thực hiện hợp đồng hai bên thỏa thuận trong 2 tháng, cộng trừ 15 ngày. Mặc dù, đã được gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng nhiều lần nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình là vi phạm hợp đồng về thời gian giao hàng. Bị đơn cho rằng việc không thực hiện được hợp đồng không phải lỗi của bị đơn vì nguyên đơn thường xuyên thay đổi, chỉnh sửa thiết kế khuôn mẫu, tuy nhiên lời nại ra này không được nguyên đơn thừa nhận và bị đơn cũng không chứng minh được đã phát sinh việc thay đổi một trong các điều khoản của nội dung hợp đồng đã ký kết.

Hội đồng xét xử đã tuyên: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn : Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu Bách khoa N.V.C có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn thị An Nhàn – Chủ Cơ sở Lê An số tiền tạm ứng đợt 1 phát sinh từ hợp đồng kinh tế  về gia công

Bản án số 1314/2007/KDTM-ST Ngày 26/07/2007

V/v tranh chấp hợp đồng Gia công

Ngày 26 tháng 07 năm 2007 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số509/2006/TLST-KDTM ngày 01 tháng 08 năm 2006 tranh chấp kinh doanh thương mại về “ hợp đồng gia công “ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số /2007/QĐST-KDTM ngày 05 tháng 06 năm 2007 giữa các đương sự :

Nguyên đơn : Bà Nguyễn thị An Nhàn – Chủ Cơ sở Lê An
Địa chỉ: 492 Lê văn Lương, Phường Tân phong, Quận 7 TP.HCM

Bị đơn : Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu Bách Khoa-NVC

Địa chỉ : 172/124 An Dương Vương, Phường 16 Quận 8 TP.HCM

Đại diện trước pháp luật : Ông Ngô văn Chương –Giám đốc .

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn : Luật sư Đặng Trường Thanh ( ( Văn phòng Luật sư Đặng Trường Thanh – Thuộc Đoàn Luật sư TP.Hồ chí Minh )

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 06 năm 2006 và các lời trình bày tiếp theo của nguyên đơn là bà Nguyễn thị An Nhàn – Chủ Cơ sở Lê An thì vào ngày 15/04/2005 nguyên đơn và bị đơn là Công ty TNHH cơ khí khuôn mẫu Bách khoa N.V.C ký hợp đồng kinh tế không số về việc thiết kế, chế tạo khuôn quạt, tổng giá trị thanh toán là 176.000.000 đồng với thời gian thực hiện là 02 tháng, cộng trừ 15 ngày. Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã giao cho bị đơn nhận 50.000.000 đồng, tuy nhiên, phía bị đơn không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng vì đã không giao hàng đúng hạn. Sau đó, bị đơn yêu cầu kéo dài thời hạn hợp đồng thêm 15 ngày nữa và nếu không thực hiện được thì sẽ bồi thường 50.000.000 đồng, tiếp theo đó, bị đơn thường xuyên yêu cầu gia hạn hợp đồng nên nguyên đơn đã có đơn yêu cầu UBND Phường 16 Quận 8, kết quả giải quyết nguyên đơn đồng ý cho gia hạn hợp đồng đến 30/12/2005, tuy nhiên, đến nay bị đơn vẫn không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.Nay do bị đơn vi phạm nghĩa vụ không giao hàng, gây thiệt hại đến quyền lợi của nguyên đơn nên yêu cầu Tòa buộc bị đơn hoàn trả số tiền cọc đã giao là 50.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/8/2005 đến nay ngay sau khi bản án hoặcquyết định của Toà có hiệu lực pháp luật. Đối với yêu cầu của bị đơn đề nghị nguyên đơn nhận toàn bộ các sản phẩm đã ra làm ra trong hợp đồng với trị giá là 41.000.000 đồng vì điều khoản này không thỏa thuận trong hợp đồng

Tại văn bản tự khai ngày 14/11/2006, ngày 07/6/2007 và trình bày tiếp theo trong biên bản hoà giải của bị đơn là Công ty TNHH cơ khí khuôn mẫu Bách Khoa N.V.C có ông Ngô văn Chương làm Giám đốc – đại diện trước pháp luật xác nhận có ký hợp đồng kinh tế ngày 15/4/2005 và nhận của nguyên đơn 2 đợt tiền, tổng cộng là 50.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, bị đơn đã tiến hành làm các khuôn mẫu theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng khi thực hiện xong thì không được chấp nhận vì nguyên đơn thay đổi chỉnh sửa thiết kế liên tục, vì vậy, việc giao hàng chậm là do lỗi của nguyên đơn vì có thay đổi thiết kế ở phần thân quạt, đồng thời, nguyên đơn cũng không giao tiếp đợt tiền tiếp theo như đã thỏa thuận trong hợp đồng nên bị đơn chỉ hoàn thành các công việc như sản xuất ra ống nhún, vòng tròn lớn, vòng tròn nhỏ, mặt nạ PS, vành xi măng, yếm thân, jiont PVC chữ thập, vành tròn 4 rãnh trượt, thành tiền là 41.000.000 đồng, còn các sản phẩm khác chưa thực hiện được. Do đó, không đồng ý hoàn trả lại 50.000.000 đồng tiền đặt cọc. Mặt khác, bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải nhận toàn bộ các sản phẩm đã thực hiện xong như trên và thanh toán tiền này cho bị dơn.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết qủa hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

Về nội dung : Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bị đơn hoàn trả ngay số tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng, HĐXX nhận thấy như sau :

Căn cứ các chứng cứ của phía nguyên đơn cung cấp và lời khai nhận của bị đơn có cơ sở xác định giữa hai bên có phát sinh hợp đồng kinh tế không số vào ngày 15/4/2005, trong đó thể hiện bên đặt hàng là bà Nguyễn thị An Nhàn – Chủ Cơ sở Lê An ký kết với bên sản xuất là Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu Bách khoa N.V.C– có ông Ngô văn Chương – Giám đốc đại diện trước pháp luật. Nội dung hợp đồng thỏa thuận về việc bị đơn nhận thực hiện thiết kế, chế tạo khuôn cho nguyên đơn quy định tại điều 1 của hợp đồng. Xét về hình thức và nội dung của hợp đồng là phù hợp với quy định nên có giá trị thực hiện.

Xét, về thời gian thực hiện hợp đồng hai bên thỏa thuận trong 2 tháng, cộng trừ 15 ngày, tuy nhiên, tại phiên Tòa hai bên xác nhận hợp đồng trên được tiếp tục kéo dài và gia hạn đến ngày 27/1/2006. Tuy nhiên, mặc dù, đã được gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng nhiều lần nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình là vi phạm hợp đồng về thời gian giao hàng. Mặt khác, trong quá trình hoà giải cũng như tại phiên Toà hôm nay, bị đơn cho rằng việc không thực hiện được đầy đủ nghĩa vụ trên không phải lỗi của bị đơn vì nguyên đơn thường xuyên thay đổi, chỉnh sửa thiết kế khuôn mẫu, tuy nhiên lời nại ra này không được nguyên đơn thừa nhận và bị đơn cũng không chứng minh được đã phát sinh việc thay đổi một trong các điều khoản của nội dung hợp đồng đã ký kết.

Xét, bị đơn còn cho rằng do nguyên đơn không thực hiện việc giao tiền đúng như thỏa thuận nên bị đơn không thực hiện được nghĩa vụ của mình.

Căn cứ vào điều 4 của hợp đồng thể hiện phương thức thanh toán được thỏa thuận như sau :

+Bên A ứng trước (đợt 1) 30 % giá trị hợp đồng = 50.000.000 đồng bằng tiền mặt cho bên B ngay sau khi ký hợp đồng.

+ Sau khi thử khuôn lần đầu tiên (lần thứ nhất) Bên A ứng (đợt 2) 20 % giá trị hợp đồng (35.000.000 đồng)….

Như vậy, điều kiện để nguyên đơn giao tiếp số tiền đợt 2 là sau khi thử khuôn lần đầu tiên, tuy nhiên, phía bị đơn không chứng minh được đã thực hiện công việc này vì vậy nguyên đơn không thể giao tiếp số tiền đợt 2, do đó, ý kiến nại ra này của bị đơn là không có cơ sở, vì vậy, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu đòi lại tiền đặt cọc với số tiền là 50.000.000 đồng của nguyên đơn.

Về yêu cầu đòi bị đơn phải chịu tiền lãi chậm trả của số tiền trên phía nguyên đơn đồng ý rút lại không yêu cầu, vì vậy nghĩ nên ghi nhận.

Về yêu cầu phản tố của bị đơn trong việc buộc nguyên đơn phải nhận toàn bộ các sản phẩm đã thực hiện xong gồm : ống nhún, vòng tròn lớn, vòng tròn nhỏ, mặt nạ PS, vành xi măng, yếm thân, jiont PVC chữ thập, vành tròn 4 rãnh trượt và thanh toán giá trị các sản phẩm trên là 41.000.000 đồng.

Xét, theo điều 1 của hợp đồng quy định về các công việc bị đơn đồng ýthực hiện cho nguyên đơn ngoài những sản phẩm trên còn co các sản phẩm khác như thân, đế tròn đen, ống tròn, đế trên, mặt thảo, phích cắm và nút kéo, với giá trị là 135.000.000 đồng. Xét, hai bên đều thừa nhận các sản phẩm trên là các bộ phận dùng để cấu tạo thành quạt máy hoàn chỉnh. Mặt khác, thỏa thuận trong hợp đồng các sản phẩm được giao nhận không thể tách rời từng bộ phận , như đã phân tích trên, việc thực hiện không đầy đủ và đúng thời hạn hợp đồng là do lỗi của bị đơn, sản phẩm chưa được nghiệm thu, chưa hoàn chỉnh đồng bộ theo thỏa thuận của hợp đồng, vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Xét, về thời gian thi hành phía nguyên đơn yêu cầu thi hành ngay là phù hợp pháp luật vì vậy nghĩ nên chấp nhận.

Xét, các lời trình bày của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có phần phù hợp với phân tích trên, nên có cơ sở ghi nhận.

Về án phí : bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch trên phần phải thanh toán cho nguyên đơn, nguyên đơn không phải chịu án phí .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

+ Căn cứ điều 210 Bộ Luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2005; Khỏan 2 điều 15, khoản 1 điều 19 Nghị định 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí của Tòa án ngày 12 tháng 06 năm 1997; Khỏan 1 phần III thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của TANDTC – VKSNDTC- BTP- BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản, tuyên xử :

– Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn : Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu Bách khoa N.V.C có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn thị An Nhàn – Chủ Cơ sở Lê An số tiền tạm ứng đợt 1 phát sinh từ hợp đồng kinh tế không số ngày 15/4/2005 là 50.000.000 đồng.

– Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn thị An Nhàn – Chủ Cơ sở Lê An không yêu cầu đòi tiền lãi chậm trả.

– Bác yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu Bách khoa N.V.C về việc buộc bà Nguyễn thị An Nhàn – Chủ Cơ sở Lê An phải nhận các sản phẩm đã thực hiện xong và thanh toán số tiền 41.000.000 đồng.

– Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án Dân sự TP.Hồ chí Minh

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành chưa thi hành xong khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

+Về án phí kinh tế sơ thẩm : Công ty TNHH Cơ khí khuôn mẫu Bách Khoa N.V.C phải chịu là 2.500.000 đồng nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự TP.HCM, được khấu trừ vào Biên lai tạm nộp án phí số 2192 số tiền là 1.025.000 đồng, còn phải nộp là 1.475.000 đồng. Bà Nguyễn thị An Nhàn – Chủ Cơ sở Lê An không phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm nộp là 2.689.000 đồng theo BL số 002625 ngày 24/7/2006 của Thi hành án dân sự TP.HCM .

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.