Câu hỏi mới

Tài sản đứng tên chồng, khi ly hôn vợ có quyền được hưởng không ?

Các anh/chị luật sư cho em hỏi: Em kết hôn năm 1995, bố mẹ có cho 1 khuôn đất nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mãi đến năm 2009 em mới làm xong giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất đứng tên mình em (không có tên vợ trong giấy, nhà xây năm 2000). bây giờ ly dị căn nhà đất đó được toà sử chia đôi. Vậy bố em có quyền lấy lại đất đã cho không? Nhà được coi là tài sản chung của 2 vợ chồng, vậy đất có được coi là tài sản riêng của chồng không?

Mong các anh chị có thể giải đáp cho em, em xin chân thành cảm ơn!

Email: ngochoang.hnv@………

Với câu hỏi của bạn Phamlaw xin được trả lời như sau (câu trả lời chỉ mang tính tham khảo):

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.

Theo đó, điểm b mục 3 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cụ thể:

Trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật này, tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng”.

Như vậy, trường hợp các tài sản có giá trị lớn hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì được coi là tài sản chung của vợ chồng. Nếu phát sinh tranh chấp đối với khối tài sản này, bạn phải có nghĩa vụ chứng minh tài sản này là tài sản riêng theo quy định viện dẫn ở trên.

Khi giải quyết ly hôn tại Tòa án, bạn cần liệt kê rõ các tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, bạn yêu cầu Tòa án xác định giá trị khối tài sản chung và phân chia khối tài sản này theo các nguyên tắc quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Như vậy, đối với mảnh đất chỉ mang tên bạn nếu vợ chồng bạn có tranh chấp thì bạn cần phải chứng mình được miếng đất đấy là do bố mẹ bạn cho tặng riêng bạn thì đấy được coi là tài sản riêng của bạn.

Trên đây là câu trả lời của Phamlaw đối với trường hợp của bạn, nếu còn vướng mắc bạn có thể kết nối trực tiếp đến Phamlaw, chúng tôi rất sẵn lòng để giải đáp mọi vướng mắc của bạn.

Trân trọng./.