Tội đánh bạc có được hưởng án treo không?

Tội đánh bạc có được hưởng án treo không?

Luật sư cho tôi hỏi: Chồng tôi bị bắt vì tội đánh bạc, tại nơi đánh bạc chồng tôi đã bị thu giữ 30 triệu đồng cả tiền mặt lẫn hiện vật. Chồng tôi bị Tòa sơ thẩm kết án 08 tháng tù giam. Gia đình tôi chồng tôi là lao động chính, tôi không có công ăn việc làm, một mình chồng tôi phải đi làm nuôi bố mẹ già và con nhỏ, hơn nữa chồng tôi chưa có tiền án tiền sự gì. Xin hỏi giờ Tòa sơ thẩm mức án như thế thì tôi có thể xin Tòa giảm án thành án treo cho chồng tôi được không?

Với câu hỏi Tội đánh bạc có được hưởng án treo không? Phamlaw xin được trả lời như sau: (câu trả lời chỉ mang tính tham khảo):

Đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác (như trộm cắp, gây thương tích, giết người…). Tội đánh  bạc trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng. Việc quy định tội này nhằm đấu tranh phòng chống tệ nạn cờ bạc trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân.

Mức xử phạt đối với hành vi đánh bạc:

Theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 về tội đánh bạc thì:

“Điều 321. Tội đánh bạc

  1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  2. ….”

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 321 như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.

Điều kiện để được hưởng án treo:

Theo Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”

Tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo như sau:

“Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

Có nhân thân tốt.

Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

  1. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  1. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

  1. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.”

Với những thông tin mà bạn cung cấp, tôi nhận thấy chồng bạn đáp ứng được điều kiện:

  • Tại khoản 1 Điều này, bị xử phạt 08 tháng (không quá 03 năm)
  • Tại khoản 2 Điều này, có thể coi là nhân thân tốt vì phạm tội lần đầu và nếu chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc thì thỏa mãn điều kiện này
  • Tại khoản 3 Điều này “Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên” có thể áp dụng căn cứ tại điểm h; p; q; s; t khoản 1 Điều 51 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để thõa mãn điều kiện.
  • Tại khoản 4, có thể coi là chồng bạn là người có “Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục”.
  • Tại khoản 5, chồng bạn cũng có thể được coi là thỏa mãn điều kiện này.

Như vậy đối với hành vi đánh bạc của chồng bạn là phạm tội lần đầu lại có hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động chính trong nhà, nếu đáp ứng được điều kiện tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bạn có thể gửi đơn kháng cáo xin được hưởng án treo theo quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ Luật Hình Sự.

Thủ tục xin hưởng án treo trong vụ án đánh bạc

Để có thể xin hưởng án treo trong vụ án đánh bạc trên, người có quyền kháng cáo xin hưởng án treo sẽ phải làm đơn kháng cáo gửi tới Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử vụ án hoặc Tòa án cấp phúc thẩm để xin được hưởng án treo. Thủ tục xin hưởng án treo được quy định như sau:

  • Nộp hồ sơ kháng cáo gồm:

+ Đơn kháng cáo có các nội dung chính:

  1. a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
  2. b) Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;
  3. c) Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;
  4. d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

+ Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo

  • Sau khi tiếp nhận đơn kháng cáo, Tòa án sẽ xem xét việc kháng cáo là có căn cứ hay không và tiến hành mở phiên Tòa phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ theo quy định của pháp luật và các điều kiện mà người bị xử phạttù. Tòa án sẽ xem xét để người phạt tù được hưởng án treo.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Phạm Law đối câu hỏi Tội đánh bạc có được hưởng án treo không?. Để được hỗ trợ tư vấn hoặc có gì vướng mắc, bạn vui lòng kết nối tổng đài tư vấn pháp luật chuyên sâu 1900 6284 của chúng tôi để được hỗ trợ.

Tham khảo thêm: >>> Mẫu đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự