Bài Viết Mới

Các loại báo cáo tài chính trong doanh nghiệp

Các loại báo cáo tài chính trong doanh nghiệp

Câu hỏi: Kính chào Quý khách, kính mong Quý khách tư vấn giúp tôi về vấn đề sau: Về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, theo tôi được hiểu thì doanh nghiệp phải nộp báo cáo tài chính hàng năm, báo cáo tài chính lại có nhiều loại. Tôi vừa mới thành lập công ty vào đầu năm nay nên chưa hiểu rõ về báo cáo tài chính cho lắm. Vậy nên Quý luật sư có thể tư vấn cho tôi hiểu thêm về các loại báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định mới nhất được không ạ?

Kính mong được Quý luật sư tư vấn.

Trân trọng cảm ơn!

(Câu hỏi được biên tập từ mail gửi đến Bộ phận tư vấn pháp luật của Phamlaw)

Các loại báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
Các loại báo cáo tài chính trong doanh nghiệp

Trả lời: (Câu trả lời chỉ mang tính chất tham khảo)

Các loại báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Kính chào Quý khách, cảm ơn Quý khách đã gửi câu hỏi đến Bộ phận tư vấn pháp luật của Phamlaw. Về thắc mắc của Quý khách, chúng tôi xin được đưa ra ý kiến tư vấn tổng quan về báo cáo tài chính của doanh nghiệp để Quý khách hiểu rõ hơn về vấn đề này.

*Các loại báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính của doanh nghiệp có hai loại: báo cáo tài chính hàng năm và báo cáo tài chính giữa niên độ. Bên cạnh đó, báo cáo tài chính có thể được lập và trình bày trên cơ sở hợp nhất hoặc không hợp nhât.

1. Báo cáo tài chính hàng năm

Hàng năm, doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo mẫu cụ thể quy định trong luật và phải lập theo dạng đầy đủ. Báo cáo hành chính hàng năm bao gồm:

  • Bảng cân đối kế toán;
  • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
  • Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
  • Bản thuyết minh báo cáo tài chính.

Báo cáo tài chính hàng năm có thể được tính theo năm dương lịch hoặc kỳ kế toán hàng năm là 12 tháng tròn sau khi thông báo cho cơ quan thuế. Doanh nghiệp được phép thay đổi kỳ kế toán năm tuy nhiên khi thay đổi doanh nghiệp cần phải lập riêng báo cáo tài chính cho giai đoạn giữa hai kỳ kế toán của năm tài chính cũ và năm tài chính mới.

2. Báo cáo tài chính giữa niên độ

Báo cáo tài chính giữa niên độ được hiểu là báo cáo tài chính cho bốn quý của năm tài chính (trong đó quý bốn là quý cuối cùng trong năm) và báo cáo tài chính bán niên. Đối với báo cáo tài chính giữa niên độ thì được lập theo mẫu cụ thể pháp luật quy định, có thể lập dưới dạng đầy đủ hoặc tóm lược. Đặc biệt đối với doanh nghiệp nhà nước và công ty niêm yết bắt buộc phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ. Đối với các loại hình doanh nghiệp khác được khuyến khích nhưng không bắt buộc phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ.

3. Báo cáo tài chính hợp nhất

Đối với mô hình nhóm công ty, công ty mẹ phải lập báo cáo tài chính theo quy định tại khoản 1 Điều 191 Luật doanh nghiệp 2014 như sau:

“Vào thời điểm kết thúc năm tài chính, ngoài báo cáo và tài liệu theo quy định của pháp luật, công ty mẹ còn phải lập các báo cáo sau đây:

a) Báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ theo quy định của pháp luật về kế toán;

b) Báo cáo tổng hợp kết quả kinh doanh hằng năm của công ty mẹ và công ty con;

c) Báo cáo tổng hợp công tác quản lý, điều hành của công ty mẹ và công ty con.”

Tuy nhiên các doanh nghiệp trong mô hình nhóm công ty không phải là công ty mẹ thì không phải lập báo cáo tài chính hợp nhất theo pháp luật về kế toán

3.1 Đối với công ty con

Theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Luật doanh nghiệp 2014 thì:

“Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó;

b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;

c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.”

Theo quy định của pháp luật về kế toán, công ty con được hiểu là công ty chịu sự kiểm soát bới công ty mẹ, theo đó công ty mẹ có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được các lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Bên cạnh đó, pháp luật về lĩnh vực kế toán cũng có quy định cụ thể để đưa ra các ví dụ trường hợp nào thì công ty mẹ được cho là có quyền kiểm soát đối với công ty con. Một trong các tiêu chí  để xác định quyền kiểm soát là 50% quyền biểu quyết theo pháp luật kế toán. Đây chính là sự khác biệt giữa quy định của Luật doanh nghiệp 2014 và pháp luật kế toán. Định nghĩa về quyền kiểm soát theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 căn cứ vào quyền sở hữu 50% vốn điều lệ, đối với pháp luật kế toán là trên 50% quyền biểu quyết nếu công ty phát hành cổ phần ưu đãi không có quyền biểu quyết và các cổ phần ưu đãi đó vẫn được tính vào vốn điều lệ; đối với Luật doanh nghiệp 2014 thì là trên 50% tổng số cổ phần phổ thông tuy nhiên tại pháp luật về kế toán thì quy định là trên 50% quyền biểu quyết nếu công ty mua lại cổ phần của chính mình để giữ làm cổ phiếu quỹ như trong trường hợp công ty đại chúng.

Như vậy có thể thấy trên các yêu cầu về báo cáo tài chính thì có sự khác biệt giữa các quy định về công ty mẹ và công ty con ở Luật doanh nghiệp 2014 và pháp luật về kế toán. Tuy nhiên, về nguyên tắc các quy định của pháp luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng trên thực tế cũng như Luật doanh nghiệp 2014 dẫn chiếu tới pháp luật về kế toán nên các quy định của pháp luật về kế toán sẽ được ưu tiên áp dụng và doanh nghiệp trong quá trình chuẩn bị báo cáo tài chính nên chủ yếu tuân thủ quy định pháp luật kế toán.

3.2 Công ty liên kết

Giống như mô hình công ty mẹ – công ty con, pháp luật về kế toán cũng yêu cầu báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ phải trình bày các khoản đầu tư của công ty mẹ vào công ty liên kết. Công ty liên kết được hiểu là công ty mà trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể tuy nhiên không được coi là công ty con hay công ty liên doanh của nhà đầu tư. Vậy ảnh hưởng đáng kể được hiểu như thế nào? Ảnh hưởng đáng kể được định nghĩa là quyền tham gia của các nhà đầu tư vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính  và hoạt động của công ty nhận đầu tư tuy nhiên không kiểm soát những chính sách này. Theo đó, một công ty được cho là có ảnh hưởng đáng kể đối với một công ty khác nếu nắm từ 20% trở lên quyền biểu quyết của công ty đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Phamlaw về thắc mắc của Quý khách liên quan đến câu hỏi: “Các loại báo cáo tài chính trong doanh nghiệp”. Báo cáo tài chính là báo cáo quan trọng nhất của doanh nghiệp, chính vì vậy nó được quy định cụ thể trong pháp luật về doanh nghiệp, đặc biệt là các yêu cầu liên quan đến việc lập và kiểm toán báo cáo tài chính. Doanh nghiệp cần tìm hiểu rõ ràng về những quy định này của pháp luật để tránh vi phạm pháp luật về thuế nói chung hay kế toán nói riêng. Hy vọng với những phân tích ở trên có thể giúp Quý khách có được cái nhìn tổng quan về các loại báo cáo tài chính. Nếu Quý khách còn vướng mắc hay cần thêm thông tin chi tiết, xin hãy liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật của PHAMLAW, số hotline 1900. Để sử dụng dịch vụ về Kế toán kiểm toán doanh nghiệp, tư vấn pháp lý thường xuyên cho doanh nghiệp và các dịch vụ khác có liên quan đến pháp lý của doanh nghiệp, Quý khách hàng vui lòng kết nối tới Số hotline: 0973938866, chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ.

———————————

Phòng tư vấn doanh nghiệp – Phamlaw

> Xem thêm: