Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con

Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con

Công ty Luật TNHH Phamlaw có nhận được câu hỏi từ bạn có email Minhhieu…@gmail.com với nội dung câu hỏi như sau:

Tôi muốn hỏi, ai là người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con theo quy định pháp luật hiện hành? Rất mong Luật sư có thể tư vấn giúp tôi. Cảm ơn Luật sư!

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Luật PhamLaw. Với câu hỏi của bạn, Phamlaw xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

CĂN CỨ PHÁP LÝ

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Xác định cha, mẹ, con là gì?

Xác định cha mẹ con là việc định rõ cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ trong quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con. Việc xác định quan hệ cha mẹ con dựa trên sự kiện sinh đẻ, quan hệ hôn nhân và huyết thống.

Quyền xác định quan hệ cha, mẹ, con là một trong những quyền nhân trong quan hệ về hôn nhân và gia đình, được pháp luật Việt Nam bảo vệ. Việc xác định cha, mẹ, con rất quan trọng bởi nó sẽ làm phát sinh thêm nhiều mối quan hệ khác như nuôi dưỡng, cấp dưỡng, thừa kế, thay đổi, bổ sung, cải chính hộ tịch của các thành viên trong gia đình.

2. Căn cứ xác định quan hệ cha mẹ con

Nguoi Co Quyen Yeu Cau Xac Dinh Cha Me Con

Căn cứ tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về các căn cứ để xác định cha mẹ con, cụ thể bao gồm các căn cứ sau đây:

Thứ nhất, Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Thời kỳ hôn nhân được coi là một căn cứ quan trọng để xác định tính đương nhiên trong việc xác định cha, mẹ, con. Trong đó, thời kỳ hôn nhân được hiểu là khoảng thời gian tồn tại của quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Con được sinh ra hoặc do vợ có thai trong khoảng thời gian này được xác định là con chung của vợ chồng.

Thứ hai, Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Thời điểm chấm dứt hôn nhân khi vợ hoặc chồng chết được xác định theo ngày được ghi trong giấy chứng tử. Trường hợp chấm dứt hôn nhân khi có quyết định của tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng chết thì thời điểm chấm dứt hôn nhân là ngày được xác định trong Quyết định của tòa án. Trường hợp chấm dứt hôn nhân do ly hôn thì ngày chấm dứt là ngày bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật.

Thứ ba, Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

Đây là trường hợp đặc biệt chỉ áp dụng trong trường hợp người vợ sinh con trước ngày đăng ký kết hôn. Tức là người vợ đã thực hiện toàn bộ quá trình sinh đẻ trước khi kết hôn, trong trường hợp này sau khi sinh con hai bên nam nữ có đăng ký kết hôn thì đây chính là điều kiện tiên quyết để vợ chồng thừa nhận đứa trẻ và đứa trẻ được trở thành con chung của vợ chồng một cách hợp pháp.

Trường hợp được xác định là cha, mẹ của con theo một trong ba căn cứ trên mà không nhận con hoặc người khác không được xác định là cha, mẹ của con muốn nhận con thì coi là trường hợp có tranh chấp và cần thực hiện thủ tục tố tụng để xác định cha, mẹ cho con.

3. Xác định cha, mẹ, con trong một số trường hợp đặc biệt

Thứ nhất, Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người có yêu cầu chết

Trong trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

Thứ hai, Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

  • Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.

Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.

Thứ ba,  Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.

4. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con

Căn cứ tại Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2014, người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con bao gồm:

Thứ nhất, Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp không có tranh chấp.

Thứ hai, Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết. Trong trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

Thứ ba, Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

  • Cha, mẹ, con, người giám hộ;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
  • Hội liên hiệp phụ nữ.

Như vậy, cha, mẹ, con có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định cha, mẹ, con cho mình trong trường hợp việc nhận cha, mẹ, con không có tranh chấp; và có quyền yêu cầu tòa án xác định cha, mẹ, con cho mình trong trường hợp việc nhận cha, mẹ, con có tranh chấp.

Việc pháp luật hiện hành quy định về chủ thể khác có quyền yêu cầu xác định cha mẹ con cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự là nhằm mục đích để bảo vệ quyền lợi của những người chưa đủ tuổi vị thành niên hoặc không có nhận thức về hành vi dân sự của mình theo như quy định của pháp luật Dân sự hiện hành. Luật Hôn nhân và gia đình có quy định về việc các cá nhân, cơ quan, tổ chức là cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hoặc hội liên hiệp phụ nữ là vì các cơ quan này được lập ra và hoạt động luôn hướng tới việc bảo vệ trẻ em và phụ nữ là những người yếu thế trong quan hệ gia định mà pháp luật này quy định.

5. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con

Căn cứ tại Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình 2014, thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con bao gồm:

Thứ nhất, Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

Thứ hai, Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Như vậy, trong trường hợp không có tranh chấp, việc đăng ký nhận cha, mẹ, con thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được nhận thường trú hoặc tạm trú. Nếu có yếu tố nước ngoài thì việc đăng ký nhận cha, mẹ, con thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người được nhận thường trú hoặc tạm trú. Trường hợp nếu có phát sinh tranh chấp việc việc xác định cha, mẹ, con do Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc tỉnh ( nếu có yếu tố nước ngoài) nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú của người đang có tranh chấp với người đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Hy vọng bài viết trên đây của Phamlaw sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con. Để biết thêm các thông tin chi tiết về vấn đề này, Quý bạn đọc có thể kết nối tổng đài 1900 để được tư vấn chuyên sâu. Ngoài ra, Luật Phamlaw còn cung cấp nhiều dịch vụ liên quan đến thành lập, giải thể, tổ chức lại doanh nghiệp,…Để được hỗ trợ các dịch vụ có liên quan đến các thủ tục hành chính, Quý khách hàng kết nối số hotline 091 611 0508 hoặc 097 393 8866, Phamlaw luôn sẵn sàng hỗ trợ.