Bài Viết Mới

TỘI GIẾT NGƯỜI – BÌNH LUẬN BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 của TÁC GIẢ ĐINH VĂN QUẾ

1.TỘI GIẾT NGƯỜI (ĐIỀU93)

Giếtngười là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái phápluật.

Điềuluật chỉ quy định giết người mà không quy định cố ý giết người, vì từ”giết” đã bao hàm cả sự cố ý. Do đó, nếu có trường hợp nào tước đoạttính mạng người khác không phải do cố ý thì không phải là giết người. Điều luậtcũng không miêu tả các dấu hiệu của tội giết người, nhưng về lý luận cũng như thựctiễn xét xử chúng ta có thể xác định các dấu hiệu của tội giết người như sau:

>>> Dịch vụ quyết toán thuế

A.CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI

1.Về phia người phạm tội

a) Hành vi khách quan của tội phạm baogồm cả hành động và không hành động.

Trườnghợp hành động thường được biểu hiện như: đâm, chém, bắn, đấm đá, đốt cháy, đầuđộc, bóp cổ, treo cổ, trói ném xuống vực, xuống sông, chôn sống v.v…

Trườnghợp không hành động ít gặp nhưng vẫn có thể xảy ra. Ví dụ: Một Y tá cố tình không cho người bệnh uống thuốc theo chỉđịnh của bác sỹ để người bệnh chết mặc dù người Y tá này phải có nghĩa vụ chongười bệnh uống thuốc.

b) Hành vi tước đoạt tính mạng của ngườikhác phải là hành vi trái pháp luật, tức là luật cấm mà cứ làm, luật bắt làm màkhông làm.

Nhưvậy, sẽ có trường hợp tước đoạt tính mạng người khác được pháp luật cho phépnhư: hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong trường hợp phòng vệ chínhđáng, trong tình thế cấp thiết hoặc thi hành một mệnh lệnh hợp pháp của nhàchức trách. Ví dụ: người cảnh sát thihành bản án tử hình đối với người phạm tội .

Hànhvi trái pháp luật phải là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người, tức là có mốiquan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Thực tiễn xét xử không phải bao giờcũng dễ dàng xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chết người.Vì vậy, khi xác định mối quan hệ nhân qủa giữa hành vi và hậu quả phải xuấtphát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về cặp phạm trù nguyên nhânvà kết quả với những đặc điểm sau:

-Hành vi là nguyên nhân gây ra chết người phải là hành vi xảy ra trước hậu quảvề mặt thời gian. Ví dụ: sau khi bịbắn, nạn nhân chết. Tuy nhiên không phải bất cứ hành vi nào xảy ra trước hậuquả chết người đều là nguyên nhân mà chỉ những hành vi có mối quan hệ nội tại,tất yếu với hậu quả thì mới là nguyên nhân. Mối quan hệ nội tại tất yếu đó thểhiện ở chỗ: khi cái chết của nạn nhân có cơ sở ngay trong hành vi cả người phạmtội ; hành vi của người phạm tội  đã mangtrong nó mầm mống sinh ra hậu quả chết người; hành vi của người phạm tội  trong những điều kiện nhất định phải dẫn đếnhậu quả chết người chứ không thể khác được. Vídụ: một người dùng súng bắn vào đầu của người khác, tất yếu sẽ dẫn đến cáichết cho người này. Nếu một hành vi đã mang trong đó mầm mống dẫn đến cái chếtcho nạn nhân, nhưng hành vi đó lại được thực hiện trong hoàn cảnh không cónhững điều kiện cần thiết để hậu quả chết người xảy ra và thực tế hậu quả đóchưa xảy ra, thì người có hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giếtngười nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Vídụ: A có ý định bắn vào đầu B nhằm tước đoạt tính mạng của B, nhưng đạnkhông trúng đầu của B mà chỉ trúng tay nên B không chết. 

-Hậu quả chết người có trường hợp không phải do một nguyên nhân gây ra mà donhiều nguyên nhân cùng gây ra, thì cần phải phân biệt nguyên nhân nào là nguyênnhân chủ yếu, nguyên nhân nào là thứ yếu. nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân mànếu không có nó thì hậu quả không xuất hiện, nó quyết định những đặc trưng tấtyếu chung của hậu quả ấy, còn nguyên nhân thứ yếu là nguyên nhân chỉ quyết địnhnhững đặc điểm nhất thời cá biệt không ổn định của hậu quả; khi nó tác dụng vàokết quả thì chỉ có tính chất hạn chế và phục tùng nguyên nhân chủ yếu. Ví dụ: có nhiều người cùng đánh mộtngười, người bị đánh chết là do đòn tập thể, nhưng trong đó có hành vi của mộtngười là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cái chết cho nạn nhân, còn hành vi củanhững người khác chỉ là nguyên nhân thứ yếu. Dù là chủ yếu hay thứ yếu thì tấtcả những người có hành vi đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người,nhưng mức độ có khác nhau.

-Trong thực tế chúng ta còn thấy hậu quả chết người xảy ra có cả nguyên nhântrực tiếp và nguyên nhân gián tiếp. Nguyên nhân trực tiếp là nguyên nhân tự nó sinh ra kết quả, nó có tính chất quyếtđịnh rõ rệt đối với hậu quả, còn nguyên nhân gián tiếp là nguyên nhân chỉ gópphần gây ra hậu quả. Thông thường, hành vi là nguyên nhân trực tiếp mới phảichịu trách nhiệm đối với hậu quả, còn đối với hành vi là nguyên nhân gián tiếpthì không phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả. Ví dụ: A cho B mượn súng để đi săn, nhưng B đã dùng súng đó để bắnchết người. Tuy nhiên, trong vụ án có đồng phạm thì hành vi của tất cả nhữngngười đồng phạm là nguyên nhân trực tiếp.

-Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cần phân biệt nguyênnhân với điều kiện. Điều kiện là những hiện tượng khách quan hoặc chủ quan, nókhông trực tiếp gây ra hậu quả, nhưng nó đi với nguyên nhân trong không gian vàthời gian, ảnh hưởng đến nguyên nhân và bảo đảm cho nguyên nhân có sự pháttriển cần thiết để sinh ra hậu quả. Nếu một người có hành vi không liên quanđến việc giết người và người đó không biết hành vi của mình đã tạo điều kiệncho người khác giết người, thì không phải chịu trách nhiệm về tội giết người. Ví dụ: A cho B đi nhờ xe Honda, nhưng Akhông biết B đi nhờ xe của mình để đuổi kịp C và giết C.

c) Hành vi tước đoạt tính mạng người kháclà hành vi được thực hiện do cố ý.

Cốý giết người là trường hợp trước khi có hành vi tước đoạt tính mạng người khác,người phạm tội  nhận thức rõ hành độngcủa mình tất yếu hoặc có thể gây cho nạn nhân chết và mong muốn hoặc bỏ mặc chonạn nhân chết.

Sựhình thành ý thức của người có hành vi giết người  được biểu hiện khác nhau:

-Dạng biểu hiện thứ nhất là trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạngngười khác, người phạm tội  thấy trướcđược hậu quả chết người tát yếu xảy ra và mong muốn cho hậu quả đó phát sinh.Loại biểu hiện này rõ nét. Biểu hiện ý thức này ra bên ngoài thường được biểuhiện bằng những hành vi như: chuẩn bị hung khí (phương tiện), điều tra theo dõimọi hoạt động của người định giết, chuẩn bị những điều kiện, thủ đoạn  để che giấu tội phạm v.v… còn gọi là cố ýcó dự mưu. Tuy nhiên, cũng có trường hợp trước khi hành động, người phạm tội  không có thời gian chuẩn bị nhưng họ vẫn thấytrước được hậu quả tất yếu xảy ra và cũng mong muốn cho hậu quả phát sinh. Ví dụ: A và B cãi nhau, sẵn có dao trongtay (vì A đang thái thịt lợn) A dùng dao chém liên tiếp nhiều nhát vào đầu Blàm B chết ngay tại chỗ. Trường hợp này gọi là cố ý đột xuất.

-Dạng biểu hiện thứ hai là trước khi có hành vi nguy hiểm đến tính mạng ngườikhác, người phạm tội  chỉ nhận thức đượchậu quả chết người có thể xảy ra chứ không chắc chắn nhất định xảy ra vì ngườiphạm tội  chưa tin vào hành vi của mìnhnhất định sẽ gây ra hậu quả chết người. Bản thân người phạm tội  cũng rất mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưnghọ lại không tin một cách chắc chắn rằng hậu quả ắt xảy ra. Ví dụ: A gài lựu đạn nhằm giết B vì A đãtheo dõi hàng ngày B thường đi qua đoạn đường này, nhưng A không tin vào khảnăng gây nổ của lựu đạn hoặc chưa chắc B nhất định đi qua và có đi qua chưachắc B đã vấp phải lưu đạn do A gài.

-Dạng biểu hiện thứ ba là trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạngcủa người khác, người phạm tội  cũng chỉthấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra tuy không mong muốn, nhưng có ýthức để mặc cho hậu quả xảy ra. Ví dụ: Amắc điện trần vào cửa chuồng gà với ý thức để kẻ nào vào trộm gà sẽ bị điệngiật chết, nhưng lại làm chết người nhà của A vào chuồng gà nhặt trứng gà đẻ.

Ngườiphạm tội giết người đều có chung một mục đích là tước đoạt tính mạng con người,nhưng động cơ thì khác nhau. Động cơ không phải là yếu tố định tội giết người,nhưng trong một số trường hợp nó là yếu tố định khung hình phạt.

Nhữngdấu hiệu khác như: thời gian. địa điểm, hoàn cảnh v.v… chỉ có ý nghĩa xácđịnh mức độ nguy hiểm đối với hành vi giết người, chứ không có ý nghĩa địnhtội.

Chủ thể của tội giết người là bất kỳ,nhưng phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải là người đủ 14tuổi trở lên, vì tội giết người là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệtnghiêm trọng.

2.Về phía nạn nhân

Ngườibị giết, phải là người còn sống, vì tội giết người là tội xâm phạm đến tínhmạng con người. Nếu một người đã chết, thì mọi hành vi xâm phạm đến xác chết đókhông phải là hành vi giết người, nhưng giết một người sắp chết vẫn là giếtngười.

Giếtmột đứa trẻ mới ra đời cũng là giết người, nhưng phá thai, dù cái thai đó ởtháng thứ mấy cũng không gọi là giết người, vì vậy giết một phụ nữ đang có thaikhông phải là giết nhiều người.

Trườnghợp người phạm tội  tưởng nhầm xác chếtlà người đang còn sống mà có những hành vi như bắn, đâm, chém… với ý thứcgiết thì vẫn phạm tội giết người. Khoa học luật hình gọi là sai lầm về đốitượng.

B.NHỮNG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI

1.  Giết nhiều người ( điểm a khoản 1 Điều 93)

Giếtnhiều người là trường hợp người phạm tội có ý định giết từ hai người trở lên hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quảnhiều người chết xảy ra.

Vềtrường hợp phạm tội này hiện nay cũng có nhiều ý kiến khác nhau, có quan điểmcho rằng chỉ coi là giết nhiều người nếu có từ hai người chết trở lên, nếungười phạm tội  có ý định giết nhiềungười, nhưng chỉ có một người chết thì không coi là giết nhièu người. Quan điểmnày, theo chúng tôi không có cơ sở khoa học và thực tiễn. Bởi vì, thực tiễn xétxử không ít trường hợp không có ai bị giết cả nhưng vẫn có người bị xét xử vềtội giết người. Đó là trường hợp giết người chưa đạt. Trong trường hợp giếtnhiều người cũng vậy, chỉ cần xác định người phạm tội  có ý định giết nhiều người là thuộc trườnghợp phạm tội này rồi mà không nhất thiết phải có nhiều người chết mới là giếtnhiều người. Ví dụ: A có mâu thuẫn với gia đình B, nên A có ý định giết cả nhàB. Nhằm lúc gia đình B đang quây quần bên mâm cơm, A rút chốt lựu đạn ném vàochỗ cả nhà B đang ăn cơm, nhưng lựu đạn không nổ.

Tuynhiên, trường hợp người phạm tội  có ýthức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra (lỗi cố ý gián tiếp) thì phải có từ hai ngườichết trở lên mới gọi là giết nhiều người.

Nhưvậy, nhiều người bị giết phải đều thuộc trường hợp quy định tại Điều 93 Bộ luậthình sự thì người phạm tội mới bị coi là giết nhiều người và bị áp dụng điểm akhoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự.

Nếucó hai người chết, nhưng lại có một người do lỗi vô ý của người phạm tội  thì không coi là giết nhiều người mà thuộctrường hợp phạm hai tội: “Giết người” và “vô ý làm chếtngười”. Ví dụ: A và B cùng uống rượu ở nhà A, “rượu vào lời ra” dẫnđến hai người cãi lộn, A bực tức rút súng bắn B. Thấy A rút súng bắn mình, Bhoảng sợ bỏ chạy ra cửa; vừa lúc đó, con của A thấy hai người to tiếng chạyvào, A nổ súng, đạn xuyên qua ngực B trúng vào đầu con của A; cả B và con của Ađều bị chết.

Nếucó hai người chết, nhưng chỉ có một người thuộc trường hợp quy định tại Điều 93Bộ luật hình sự còn người kia lại thuộc trường hợp trong trạng thái tinh thầnbị kích động mạnh hoặc do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, hoặc thuộctrường hợp làm chết người trong khi thi hành công vụ thì không thuộc trường hợpgiết nhiều người mà tuỳ từng trường hợp cụ thể, người phạm tội bị truy cứutrách nhiệm hình sự về tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 và một tộikhác ( giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh hoặc giết ngườido vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng…)

2.Giết phụ nữ mà biết là có thai (điểm b khoản 1 Điều 93)

Làtrường hợp người phạm tội  biết rõ ngườimình giết là phụ nữ đang có thai (không kể tháng thứ mấy). Nếu nạn nhân làngười tình của người phạm tội  thì thuộctrường hợp giết người vì động cơ đê hèn.

Nếungười bị giết có thai thật, nhưng có căn cứ để xác định người phạm tội khôngbiết họ đang có thai thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội giết phụ nữ màbiết là có thai. Ví dụ: A là khách qua đường vào ăn phở trong tiệm phở của chịH. A chê phở không ngon, chị H cũng chẳng vừa bèn nói lại: “ít tiền màcũng đòi ăn ngon, đồ nhà quê!” A bực tức lao vào đấm đá chị H liên tiếp.Do bị đá đúng chỗ hiểm chị H đã chết sau đó vài giờ. Khi khám nghiệm tử thi mớibiết chị H đang có thai hai tháng.

Ngượclại, trong trường hợp người phụ nữ bị giết không có thai, nhưng người phạmtội  tưởng lầm là có thai và sự lầm tưởngnày của người phạm tội  là có căn cứ, thìngười phạm tội  vẫn bị xét xử về tội giếtngười trong tường hợp “giết phụ nữ mà biết là có thai”. Ví dụ: K làtên lưu manh cùng đi một chuyến ô tô với chị M. Do tranh giành chỗ ngồi nên haibên cãi nhau. K đe doạ: “Về tới bến biết tay tao!” Khi xe đến bến, Kthấy chị M đi khệnh khạng, bụng lại hơi to, K tưởng M có thai, vừa đánh chị M,K vừa nói: “Tao đánh cho mày truỵ thai để mày hết thói chua ngoa”.Mọi người thấy K đánh chị M bèn can ngăn và nói: “Người ta bụng mang dạchửa đừng đánh nữa phải tội”. Nhưng K vẫn không buông tha. Bị đá vỡ lálách nên chị M bị chết. Sau khi chị M chết mới biết là chị không có thai mà chịgiấu thuốc lá 555 trong người giả vờ là người có thai để tránh sự phát hiện củacác cơ quan chức năng. Biên bản khám nghiệm tử thi cũng kết luận là chị M khôngcó thai.

Giếtphụ nữ mà biết là có thai là dấu hiệu thuộc ý thức chủ quan của người phạm tộichứ không phải dấu hiệu khách quan như trường hợp phạm tội đối với phụ nữ cóthai quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Trường hợp quy địnhtại điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự chỉ cần xác định người bị hại là phụnữ có thai là đủ căn cứ xác định là tình tiết tăng nặng rồi không cần phải xácđịnh người phạm tội có biết hay không biết rõ người phụ nữ có thai hay không.

3.Giết trẻ em (điểm ckhoản 1 Điều 93)

Giếttrẻ em là trường hợp người phạm tội đã cố ý tước đoạt tính mạng của trẻ em

TheoĐiều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì người dưới 16 tuổi là trẻem.

Giếttrẻ em được coi là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự, không chỉ xuấtphát từ quan điểm bảo vệ trẻ em là bảo vệ tương lai của đất nước, bảo vệ lớpngười kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn bảo vệ những ngườikhông có khả năng tự vệ.

Sovới tội giết người được quy định tại Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 thìtrường hợp giết trẻ em quy định tại điểm c khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm1999 là quy định mới nên chỉ áp dụng đối với người phạm tội thực hiện hành vikể từ 0 giờ 00 ngày 1-7-2000.

Khiáp dụng tường hợp phạm tội này cần chú ý một số điểm sau:

-Việc xác định tuổi của người bị hại là trẻ em là một yêu cầu bắt buộc của cáccơ quan tiến hành tố tụng. Hồ sơ vụ án nhất thiết phải có giấy khai sinh củangười bị hại là trẻ em, nêu không có giấy khai sinh thì phải có các tài liệuchứng minh người bị hại là người chưa đến 16 tuổi. Tuy nhiên, thực tiễn xét xửcó nhiều trường hợp việc xác định tuổi của người bị hại gặp rất nhiều khó khăn,các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng hết mọi biện pháp nhưng vẫn không xácđịnh được tuổi của người bị hại. Vậy trong trường hợp này tính tuổi của ngườibị hại như thế nào ? Hiện nay có hai ý kiến trái ngược nhau: ý kiến thứ nhấtcho rằng, nếu không biết ngày sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó, nếukhông biết tháng sinh thì lấy tháng cuối cùng của năm đó, cách tính này làkhông có lợi cho ngời phạm tội. Còn ý kiến thứ hai thì cho rằng, nếu không biếtngày sinh thì lấy ngày đầu tiên của tháng đó, nếu không biết tháng sinh thì lấytháng cuối cùng của năm đó, cách tính này theo hướng có lợi cho người phạm tội.Để có căn cứ xác định tuổi của người bị hại nhất là người bị hại lại là trẻ em,các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cụ thể.1

-Phạm tội đối với trẻ em nói chung và giết trẻ em nói riêng không phải là tìnhtiết thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội mà là tình tiết khách quan, do đókhông cần người phạm tội phải nhân thức được hoặc buộc họ phải nhận thức đượcđối tượng mà mình xâm phạm là trẻ em thì mới coi là tình tiết tăng nặng, mà chỉcần xác định người mà người phạm tội xâm phạm là trẻ em thì người phạm tội đãbị coi là phạm tội đối với trẻ em rồi. 2

3.Giết người đang thi hành công vụ (điểmd khoản 1 Điều 93)

Đâylà trường hợp người bị giết là người đang thi hành công vụ, Tức là người bịgiết đang thực hiện một nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao phó.Nhiệm vụ được giao có thể là đương nhiên do nghề nghiệp quy định: cán bộ chiếnsĩ công an nhân dân đang làm nhiệm vụ bảo vệ, thầy thuốc đang điều trị tại bệnhviện; thầy giáo đang giảng bài hoặc hướng dẫn học sinh tham quan, nghỉ mát;thẩm phán đang xét xử tại phiên toà; cán bộ thuế đang thu thuế; thanh niên cờđỏ, dân quân tự vệ đang làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự ở nơi công cộng v.v…

Cũngđược coi là đang thi hành công vụ đối với nhưng người tuy không được giao nhiệmvụ nhưng họ tự nguyện tham gia vào việc giữ gìn an ninh chính trị và trật tự antoàn xã hội trong một số trường hợp nhất định như: đuổi bắt người phạm tội  bỏ trốn; can ngăn, hoà giải những vụ đánhnhau ở nơi công cộng v.v…

Nạnnhân bị chết phải là lúc họ đang làm nhiệm vụ, thì người phạm tội  mới bị coi là phạm tội trong trường hợp”giết người đang thì hành công vụ”. Nếu nạn nhân lại bị giết vào lúckhác thì không thuộc trường hợp giết người đang thi hành công vụ, mà tuỳ từngtrường hợp có thể là giết người bình thường hoặc thuộc trường hợp khác.

Nạnnhân bị giết phải là người thi hành nhiệm vụ đúng pháp luật, nếu trái với phápluật mà bị giết thì người có hành vi giết người không phải là “giết người đang thi hành công vụ”. Ví dụ: mộtngười tự xưng là công an đòi khám nhà của người khác. Chủ nhà yêu cầu xuấttrình lệnh khám nhà, nhưng người này không đưa, dẫn đến hai bên xô xát và chủnhà đâm chết người này.

4.Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân( điểm d khoản 1 Điều 93)

Khácvới trường hợp giết người đang thi hành công vụ, nạn nhân bị giết trong trườnghợp này không phải lúc họ đang thi hành công vụ mà có thể trước hoặc sau đó.Thông thường, nạn nhân là người đã thi hành một nhiệm vụ và vì thế đã làm chongười phạm tội  thù oán nên đã giết họ.Ví dụ: A buôn thuốc phiện, bị tổ công tác của B (đội đặc nhiệm) bắt giữ, A đãdùng mọi cách để B bỏ qua hành vi phạm tội của A nhưng B vẫn không đồng ý, nênA đã giết B nhằm trốn tránh pháp luật.

Tuynhiên, có một số trường hợp người bị giết chưa kịp thi hành nhiệm vụ được giao,nhưng người có hành vi giết người cho rằng nếu để người naỳ sống, nhiệm vụ màhọ thực hiện sẽ gây ra thiệt hại cho mình, nên đã giết trước. Ví dụ: A làm nhàtrái phép, Uỷ ban nhân dân Quận B ra quyết định dỡ bỏ và giao cho Uỷ ban nhândân phường K thi hành. A đến nhà ông Chủ tịch phường xin hoãn, nhưng không đượcnên đã bực tức lấy dao đâm chết ông Chủ tịch phường tại nhà riêng của ông.

4.Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình (điểm đ khoản 1 Điều 93)

Đâylà trường hợp giết người mang tính chất phản trắc, bội bạc; giết người mà ngườibị giết đáng lẽ người phạm tội phải có nghĩa vụ kính trọng. Việc nhà làm luậtcoi trường hợp giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo củamình là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự ( tình tiết định khung tăngnặng) là xuất phát từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, truyền thốngtôn sư trọng đạo. Bộ luật hình sự năm 1985 không coi trường hợp phạm tội này làtình tiết định khung hình phạt. Tuy nhiên trong một số trường hợp nếu ngườiphạm tội giết người có tính chất bội bạc phản trắc thì áp dụng tình tiết “giết người vì động cơ đê hèn”. Nay Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy địnhtrường hợp giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mìnhlà tình tiết định khung tăng nặng. Do đó Toà án chỉ áp dụng tình tiết này đối vớingười thực hiện hành vi phạm tội kể từ 0 giờ 00 ngày 1-7-2000.

Ông,bà bao gồm cả ông, bà nội; ông, bà ngoại. Cha, mẹ bao gồm cả cha, mẹ đẻ; cha,mẹ nuôi; cha, mẹ vợ hoặc cha, mẹ chồng. Người nuôi dưỡng là những người tuykhông phải là ông, bà, cha, mẹ nhưng đã nuôi dưỡng người phạm tội từ bé, thườnglà những người có hàng thân thích với người phạm tội như: chú, dì, cô, bác,cậu, mợ… hoặc tuy không phải là người thân thích với người phạm tội, nhưng làngười chăm sóc, nuôi dưỡng người phạm tội trong các Trại mồ côi, Trại điềudưỡng. Thầy, cô giáo của người phạm tội là người đã và đang dạy người phạm tội.Tuy niên, trong trường hợp giết thầy, cô giáo phải xác định người phạm tội giếtthầy, cô giáo với động cơ phản trắc và người thầy, người cô đó phải là người cómột quá trình dạy dỗ nhất định đối với người phạm tội. Nếu vì động khác vàngười thầy, người cô đó không có quá trình nhất định trong việc dạy dỗ ngườiphạm tội thì không thuộc trường hợp phạm tội này. Ví dụ: Trần Văn Q là sinhviên năm thứ tư Trường Đại học X. Do có mâu thuẫn với Bùi Đức T là giảng viêncủa nhà trường vì T và Q đều yêu Vũ Thi C là học viên cùng lợp với Q. Tuy làgiảng viên, nhưng T chỉ hơn Q mấy tuổi và là học viên khoá trước được nhàtrường giữ lại làm giảng viên và không giảng ở lớp Q giờ nào. Vì không muốn choT yêu C, nên Q đã rủ một số học viên cùng lớp gây sự rồi đánh T bị trọngthương, đưa vào bệnh viện cấp cứu thì chết.

5.Giết người mà liền trước đó phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệtnghiêm trọng (điểm ekhoản 1 Điều 93)

Làtrường hợp trước khi giết ngươi, người phạm tội đã phạm một tội rất nghiêmtrọng  hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng3.Ví dụ: A vừa sử dụng vũ khí cướp tài sản của B, đang bỏ chạy thì gặp C là ngườimà y đã thù ghét từ trước, sẵn có vũ khí trong tay, A gây sự và giết chết B.

Tuychưa có giải thích hoặc hướng dẫn như thể nào là liền trước đó, nhưng qua thựctiễn xét xử chỉ coi là liền trước hành vi giết người, nếu như tội phạm đượcthực hiện trước đó về thời gian phải liền kề với hành vi giết người có thểtrong khoảng thời gian vài giờ đồng hồ hoặc cùng lắm là trong ngày, nếu tộiphạm người phạm tội thực hiện trước đó có khoảng cách nhất định không còn liềnvới hành vi giết người thì không coi là giếtngười mà liền trước đó phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêmtrọng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự

Khácvới trường hợp giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác ở chỗ: tộiphạm của người phạm tội  trước khi giếtngười không liên quan với tội giết người và phải là tội phạm rất nghiêm trọnghoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng chứ không phải là tội phạm ít nghiêm trọnghoặc tội phạm nghiêm trọng.

6.Giết người mà ngay sau đó phạm một tội một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặcbiệt nghiêm trọng (điểme khoản 1 Điều 93)

Trườnghợp giết người này cũng tương tự như trường hợp giết người mà liền trước đóphạm một tội phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, chỉkhác nhau ở chỗ: Tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng màngười phạm tội  thực hiện diễn ra ngaysau đó chứ không phải ngay trước đó. Ví dụ: A vừa giết người đang chạy trốn thìgặp B đi xe máy Draem II, A dùng vũ khí khống chế cướp xe máy của B để chạy trốn. Cùng vì thế mà nhà làm luậtquy định trường hợp phạm tội này cùng trong mọt điểm với trường hợp giết ngườimà liền trước đó phạm một tội phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệtnghiêm trọng (điểm e khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự)

Giếtngười mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặctội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự,về lý luận cũng như thực tiễn xét xử hay bị nhầm lẫn với trường hợp giết ngườiđể thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác quy định tại điểm g khoản 1 Điều 93Bộ luật hình sự. Để phân biệt hai trường hợp giết người này, chúng ta có sơ đồso sánh như sau:

điểm g khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự

điểm e khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự

-Tội phạm mà người phạm tội  thực hiện trước hoặc sau tội giết người có thể là tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng và cũng coa thể là tội nghiêm trọng và tội ít nghiêm trọng.

– Về thời gian, tội phạm mà người phạm tội  thực hiện trước hoặc sau tội giết người có thể xảy ra trước đó hoặc sau đó một thời gian ngắn, nhưng cũng có thể cách tội giết người một thời gian dài.

– Tội phạm mà người phạm tội  thực hiện trước hoặc sau tội giết người có liên quan mật thiết đến tội giết người (không giết người thì không thực hiện được tội phạm đó hoặc không che giấu được tội phạm đó)

– Tội phạm mà người phạm tội  thực hiện trước hoặc sau tội giết người chỉ là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng

– Tội phạm mà người phạm tội  thực hiện phải xảy ra liền trước đó hoặc ngay sau đó, không có khoảng cách.

– Tội phạm mà người phạm tội  thực hiện trước hoặc sau tội giết người không liên quan đến tội giết người.

7.Giết người để thực hiện tội phạm khác (điểm g khoản 1 Điều 93)

Đâylà trường hợp sau khi giết người, người phạm tội lại thực hiện một tội phạmkhác. Tội phạm khác là tội phạm bất kỳ do Bộ luật hình sự quy định, không phânbiệt đó là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêmtrọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tất nhiên tội phạm khác ở đây khôngphải là tội giết người.

Vềthời gian, tội phạm được thực hiện sau khi giết người, có thể là liền ngay saukhi vừa giết người hoặc có thể xảy ra sau một thời gian nhất định. nhưng khácvới trường hợp “giết người mà liền ngay sau đó lại phạm một tội nghiêmtrọng khác” (điểm e khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự) ở chỗ tội phạm đượcthực hiện sau khi giết người ở trường hợp này có liên quan mật thiết với hànhvi giết người. Hành vi giết người là tiền đề, là phương tiện để thực hiện tộiphạm sau, nếu không giết người thì không thực hiện được tội phạm sau. Ví dụ: Giếtngười để cướp của, giết người để khủng bố, giết người để trốn đi nước ngoàiv.v…

8.Giết người để che giấu tội phạm khác (điểm g khoản 1 Điều 93)

Đâylà trường hợp trước khi giết người, người có hành vi giết người đã thực hiệnmột tội phạm và để che giấu tội phạm đó nên người phạm tội đã giết người. Thôngthường sau khi phạm một tội có nguy cơ bị lộ, người phạm tội  cho rằng chỉ có giết người thì tội phạm mà yđã thực hiện mới không bị phát hiện. Người bị giết trong trường hợp này thườnglà người đã biết hành vi phạm tội hoặc cùng người phạm tội  thực hiện tội phạm.

Giữahành vi giết người của người phạm tội với tội phạm mà y đã thực hiện phải cómối liên hệ với nhau, nhưng mối liên hệ ở đây không phải là tiền đề hay phươngtiện như trường hợp “giết người để thực hiện tội phạm khác” mà chỉ làthủ đoạn để che giấu tội phạm.

Vềthời gian, tội phạm mà người có hành vi giết người  muốn che giấu có thể xảy ra liền ngay trướcvới tội giết người, nhưng cũng có thể xảy ra trước đó một thì gian nhất định.Nếu xảy ra liền trước đó lại là tội nghiêm trọng và không có mối liên hệ vớitội giết người thì không thuộc trường hợp phạm tội này mà thuộc trường hợp”giết người mà liền trước đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác (điểm ekhoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự ).

9.Giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân (điểm h khoản 1 Điều 93)

Đâylà trường hợp giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân thay thế hoặc đểbán cho người khác dùng vào việc thay thế bộ phận đó. Trường hợp giết người nàythực tiễn chưa xảy ra, nhưng trên thế giới nhiều nước đã có tình trạng giếtngười để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân nhằm thay thế bọ phận đó cho mình hoặccho người thân của mình hoặc bán để người khác thay thế bộ phận đó. Tham khảopháp luật các nước, đòng thời dự kiến trong tình hình phát triển của xã hội cóthể có trường hợp giết người này nên Bộ luật hình sự năm 1999 có quy địnhtrường hợp giết người này là tình tiết định khung tăng nặng để đề phòng thực tếcó thể xảy ra.

Nếuvì quá căm tức mà người phạm tội sau khi giết người đã lấy bộ phận cơ thể củanạn nhân để nhằm mục đích khác cho hả dận thì không thuộc trường hợp phạm tộinày. Ví dụ: Sau khi giết người, người phạm tội đã mổ bụng, lấy gan nạn nhân chochó ăn.

 

10.Thực hiện tội phạm một cách man rợ (điểm i khoản 1 Điều 93)

Tínhchất man rợ của hành vi giết người thể hiện ở chỗ, làm cho nạn nhân đau đớn,quằn quại trước khi chết như: mổ bụng, moi gan, khoét mắt, chặt chân tay, xẻothịt, lột da, tra tấn cho tới chết…Các hành vi trên, người phạm tội  thực hiện trước khi tội phạm hoàn thành, tứclà trước khi nạn nhân bị chết.

Tuynhiên, thực tiễn xét xử cũng đã coi các hành vi nêu trên là những hành vi cótính chất man rợ, nhưng không phải là thực hiện tội phạm mà là để che giấu tộiphạm, là trường hợp “thực hiện tội phạm một cách man rợ”. Ví dụ: saukhi đã giết người, người phạm tội  cắtxác nạn nhân ra nhiều phần đem vứt mỗi nơi một ít để phi tang. Đây là vấn đề vềlý luận cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng theo chúng tôi nếu coi cả nhữnghành vi có tính chất man rợ nhằm che giấu tội giết người cũng là “thựchiện tội phạm một cách man rợ” thì nên quy định trường hợp phạm tội này là”phạm tội một cách man rợ”, vì phạm tội bao hàm cả hành vi che giấutội phạm, còn thực hiện tội phạm mới chỉ mô tả những hành vi khách quan và ýthức chủ quan của cấu thành tội giết người.

11.Giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp (điểm k khoản 1 Điều 93)

Đâylà trường hợp người phạm tội  dã sử dụngnghề nghiệp của mình để làm phương tiện giết người dễ dàng và cũng dễ dàng chegiấu tội phạm như: bác sĩ giết bệnh nhân, nhưng lập bệnh án là nạn nhân chết dobệnh hiểm nghèo; Bảo vệ bắn chết người, nhưng lại vu cho họ là kẻ cướp. Lợidụng nghề nghiệp đẻ giết người là phạm tội với thủ đoạn rất xảo quyệt, nên nhàlàm luật không chỉ dừng lại ở quy định là tình tiết tăng nặng theo Điều 48 Bộluật hình sự mà coi thủ đoạn này là tình tiết định khung hình phạt.

Phảixác định rõ người phạm tội  đã lợi dụngnghề nghiệp của mình để giết người thì mới thuộc trường hợp phạm tội này. Nếungười có hành vi giết người  bằng phươngpháp có tính chất nghề nghiệp, nhưng đó không phải là nghề nghiệp của y mà lạilợi dụng người có nghề nghiệp đó rồi thông qua người này thực hiện ý đồ củamình  thì không thuộc trường hợp phạm tộinày. Ví dụ: một kẻ đã đánh tráo ống thuốc tiêm của y tá điều trị, thay vào đómột ống thuốc giả có nhãn hiệu như ống thuốc thật, nhưng có độc tố mạnh để mượntay người y tá giết chết bệnh nhân mà y có thù oán.

 

12.Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người (điểm l khoản 1 Điều 93)

Phươngpháp có khả năng làm chết nhiều người là nói đến tính năng, tác dụng của phươngtiện mà người phạm tội  sử dụng khi phạmtội có tính nguy hiểm cao, có thể gây thương vong cho nhiều người như: ném lựuđạn vào chỗ đông người, bỏ thuốc độc vào bể nước nhằm giết một người mà ngườiphạm tội  mong muốn.

Hậuquả của hành vi sử dụng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người có thểchết người mà người phạm tội  mong muốnvà có thể chết người khác, có thể chết nhiều người và cũng có thể không ai bịchết. Nhưng người phạm tội  vẫn bị  coi là giết người bằng phương pháp có khảnăng làm chết nhiều người và bị xử lý theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự. Tuynhiên, nếu không có ai bị chết thì người phạm tội  được áp dụng Điều 18 Bộ luật hình sự về trườnghợp “giết người chưa đạt”

13.Thuê giết người (điểmm khoản 1 Điều 93)

Thuêgiết người là trường hợp trả cho người khác tiền hoặc lợi ích vất chất để họgiết người mà mình muốn giết.

Cũnggiống như những trường hợp thuê làm một việc, người phạm tội vì không trực tiếpthực hiện hành vi giết người nên đã dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác đểthuê người khác giết người. Người trực tiếp giết người trong trường hợp này làngười giết thuê.

Thuêgiết người và giết người thuê có mói quan hệ mật thiết với nhau, cái này làtiền đề của cái kia, thiếu một trong hai cái thì không có trường hợp giết ngườinày xảy ra (có người thuê, mới người làm thuê).

Thôngthường việc giết người thuê và thuê giết người đồng thời là trường hợp giếtngười có tổ chức, nhưng cũng thể chỉ là trường hợp đồng phạm bình thường. Vídụ: Phạm Văn T đến nhà  Hoàng Thị X làngười yêu chơi. Tại đây. T gặp Hoàng Văn H là anh họ của X và Bùi Công Q đangnói chuyện với X. T biết H rủ Q đến nhà X chơi là để giới thiệu X cho Q. T giảvờ xin phép về, trên đường về T gặp Bùi Đức C và Trần Văn S. T nói với C và S:”Chúng mày làm việc hai thằng đang ở trong nhà X cho tao, xong việc tao sẽthưởng” C và S nhận lời, còn T về nhà chờ kết quả. C và S đã chuẩn bị mộtđoạn tre dài 1m có đường kính 3 cm ngồi phục sẵn ở gốc cây trước cổng nhà X chờH và Q ra để đánh. Khi H và Q từ nhà X đi ra, S bấm đền pin còn C dùng đoạn trevụt một cái thật mạnh vào đầu Q làm cho Q gục chết tại chỗ. Đánh xong, C và Schạy vè báo tin cho T biết là đã đánh một đứa gục rồi. T đưa cho C và S mõi tên500.000 đồng và bảo chúng trốn đi mọt thời gian bao giờ tình hình êm thì hãyvề.

 

14.Giết người thuê (điểmm khoản 1 Điều 93)

Làtrường hợp người phạm tội lấy việc giết người làm phương tiện để kiếm tiền hoặclợi ích vật chất khác. Vì muốn có tiền nên người phạm tội  đã nhận lời với người thuê mình để giết mộtngười khác. Việc trừng trị đối với kẻ giết thuê là nhằm ngăn chặn tình trạng”đâm thuê chém mướn”, nhất là trong nền kinh tế thị trường, ở nơi nàyhoặc nơi khác đã xuất hiện những tên, những nhóm người chuyên hoạt động đâmthuê chém mướn, thì việc trừng trị thật nghiêm đối với bọn người này là rất cầnthiết.

Ngườiphạm tội  phải có ý thức giết thuê thậtsự mới là phạm tội vì động cơ đê hèn. Vì nể hoặc sợ nên người phạm tội  nhận lời giết người thì không phải là”giết thuê”.

15.Giết người có tính chất côn đồ (điểmn khoản 1 Điều 93)

Làtrường hợp khi giết người, người phạm tội rõ ràng đã coi thường những quy tắc trong cuộc sống, có những hành vingang ngược, giết người vô cớ (không có nguyên cớ) hoặc cố tình sử dụng nhữngnguyên cớ nhỏ nhặt để giết người. Ví dụ: Đặng Văn T ngồi xem phim trong rạp,mặc dù đã có thông báo: “không hút thuốc lá trong rạp”, nhưng T vẫncứ hút thuốc, những người ngồi bên cạnh góp ý. T không những không nghe mà còngây gổ, chửi tục làm mất trật tự; buổi chiếu phim phải tạm dừng. Khi người bảovệ đến yêu cầu T tắt thuốc lá và giữ trật tự để buổi chiếu phim tiếp tục, T tỏthái độ hung hăng buộc người bảo vệ phải mời T ra khỏi rạp. T liền rút dao gămtrong người ra đâm vào ngực người bảo vệ làm cho người này chết tại chỗ.

Tuynhiên, việc xác định trường hợp giết người có tính chất côn đồ không phải baogiờ cũng dễ dàng như các trường hợp giết người khác được quy định tại khoản 1Điều 93 Bộ luật hình sự. Thực tiễn xét xử không ít trường hợp giết người khôngthuộc các trường hợp khác quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự , thìcác Toà án thường xác định giết người có tính chất côn đồ để áp dụng khoản 1Điều 93 Bộ luật hình sự. Nhiều bản án đã bị kháng nghị theo trình tự Giám đốcthẩm hặc bị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao sửa bản án sơ thẩm chỉ vì xácđịnh không đúng tình tiết này. Đây cũng là một vấn đề hiện nay còn nhiều vướngmắc và cũng là vấn đề phức tạp có nhiều ý kiến khác nhau; việc tổng kết kinhnghiệm xét xử về vấn đề này chưa đáp ứng tình hình phạm tôi xảy ra. Do đó ảnhhưởng không ít đến việc áp dụng pháp luật.

Khixác định trường hợp giết người có tính chất côn đồ cần phải có quan điểm xemxét toàn diện, tránh xem xét một cách phiến diện như: chỉ nhấn mạnh đến nhânthân người phạm tội , hoặc chỉ nhấn mạnh đến địa điểm xảy ra vụ giết người haychỉ nhấn mạnh đến hành vi cu thể gây ra cái chết cho nạn nhân, đâm nhiều nhátdao vào người nạn nhân là có tính chất côn đồ; nhưng có trường hợp người phạmtội  chỉ đâm một nhát trúng tim nạn nhânchết ngay cũng là có tính chất côn đồ. Cần xem xét đến mối quan hệ giữa ngườiphạm tội  với nạn nhân, thái độ của ngườiphạm tội  khi gây án, nguyên nhân nào dẫnđến việc người phạm tội  giết ngườiv.v…

16.Giết người có tổ chức (điểmo khoản 1 Điều 93)

Làtrường hợp nhiều người tham gia vào một vụ giết người, có sự cấu kết chặt chẽgiữa những người cùng thực hiện việc giết người; có sự phân công; có kẻ chủmưu, cầm đầu, chỉ huy việc giết người.

Nếunhiều người cùng tham gia vào một vụ án giết người, nhưng không có sự cấu kếtchặt chẽ, mà chỉ có sự đồng tình có tính chất hời hợt thì không phải là giếtngười có tổ chức. Ví dụ: một số thanh niên ở xã A đi xem phim, gây gổ đánh nhauvới một số thanh niên ở xã B dẫn đến một thanh niên ở xã A bị thanh niên ở xã Bđánh chết. KHi đã xác định giết người có tổ chức thì tất cả những người cùngtham gia vụ giết người dù ở vai trò nào (chủ mưu hay giúp sức, chỉ huy hay thựchành…) đều bị coi là giết người có tổ chức. Tuy nhiên, khi quyết định hìnhphạt (cá thể hoá hình phạt) phải căn cứ vào vai trò, vị trí của từng người thamgia vào vụ án. Có thể kẻ bị tử hình, nhưng có kẻ chỉ bị phạt ba hoặc bốn nămtù.

17.Giết người thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm (điểm p khoản 1 Điều 93)

Làtrường hợp trước khi giết người, người phạm tội đã bị kết về tội rất nghiêmtrọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích hoặc đã táiphạm và chưa được xoá án tích ( khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự). Ví dụ: A đãbị kết án 10 năm tù về tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa chưa được xoá ántích lại phạm tội giết người.

Táiphạm là trường hợp bị đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do vôý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý ( khoản 1Điều 49 Bộ luật hình sự ).

Vềtrường hợp phạm tội này, cũng có ý kiến cho rằng không nên coi trường hợp táiphạm nguy hiểm là tình tiết phạm tội phải bị xử phạt theo khoản 1 Điều 93 Bộluật hình sự. Vì trong nhiều trường hợp không thể hiện tính chất nguy hiểm caocủa hành vi giết người. Các quan hệ (đặc điểm) về nhân thân chỉ nên coi là tìnhtiết tăng nặng theo Điều 48 Bộ luật hình sự là đủ. Nếu coi trường hợp tái phạmnguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt đối với tội giết người thì chỉ nêncoi trường hợp tái phạm về tội này, tức là đã bị kết án về tội giết người chưađược xoá án tích mà còn giết người.

 

18. Giết người vì động cơ đê hèn (điểm q khoản 1 Điều 93)

Động cơ đê hèn của người phạm tội  giết người được xác định qua việc tổng kếtkinh nghiệm xét xử nhiều năm ở nước ta. Thực tiễn xét xử đã coi những trườnghợp sau đây là giết người vì động cơ đê hèn:

Giếtvợ hoặc chồng để tự do lấy vợ hoặc chồng khác.

Vì muốn tự do lấy vợ hoặc chồng khác nênngười phạm tội  đã giết vợ hoặc giếtchồng của mình. Phải có căn cứ xác định người phạm tội  vì muốn lấy vợ hoặc lấy chồng khác mà buộcphải giết vợ hoặc giết chồng mình thì mới coi là giết người vì động cơ đê hèn.Nếu vì một lý do khác, người phạm tội  đãgiết vợ hoặc giết chồng sau đó mới có ý định lấy vợ hoặc lấy chồng khác thìkhông phải giết người vì động cơ đe hèn. Vídụ: Nguyễn Văn T đi làm về, chưa thấy vợ nấu cơm, liền nổi giận đá vợ mấycái vào bụng. Do bị đá vỡ lá lách nên vợ T bị chết sau 4 tiếng đồng hồ. T hoảngsợ lấy thuốc sâu đổ vào miệng vợ rồi nói với mọi người rằng vợ y tự tử. Vớihành động đó, T đã che giấu tạm thời hành vi phạm tội của mình. Sau khi chôncất vợ, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn lại phải nuôi con nhỏ nên sau một năm Tlấy vợ khác để chăm sóc con cái và giúp y trong việc nội trợ. Lấy vợ được 6tháng thì hành vi giết vợ của T bị phát hiện.

b)Giết chồng để lấy vợ hoặc giết vợ để lấy chồng nạn nhân.

Thông thường, trong trường hợp này giữangười có hành vi giết người  với vợ hoặcchồng nạn nhân có qan hệ thông gian với nhau. Tuy nhiên, có trường hợp cá biệtkhông có quan hệ thông gian từ trước, nhưng trước khi giết nạn nhân người cóhành vi giết người  đã có ý định lấy vợhoặc chồng nạn nhân. Trường hợp có quan hệ thông gian từ trước và cả hai đều làthủ phạm thì một người phạm tội thuộc trường hợp “giết vợ hoặc chồng để tựdo lấy vợ, lấy chồng khác” còn một người phạm tội thuộc trường hợp”Giết chồng để lấy vợ hoặc giết vợ để lấy chồng nạn nhân”.

Vídụ: Phạm Văn K là nhân viên bảo vệ trường dạy nghề của tỉnh Q. K đã nhiềulần quan hệ bất chính với M là vợ của anh H. Để lấy được nhau, K và M đã bànbạc giết anh H; theo kế hoạch đã định, M rủ anh Hvaof rừng lấy nấm, khi anh Hđi qua chỗ K phục sẵn, M ra hiệu để k nổ súng bắn chết anh H. Trường hợp này Kgiết anh H là để lấy vợ H còn M giết H là để tự do lấy K.

c)Giết người tình mà biết họ đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm.

Đây là trường hợp giết phụ nữ mà biết làcó thai, nhưng nạn nhân lại là người tình với người phạm tội .

Trách nhiệm mà người phạm tội  trốn tránh là trách nhiệm làm bố đứa trẻ, docó trách nhiệm này mà có thể làm cho người phạm tội  bị ảnh hưởng đến nhiều  mặt trong cuộc sống như: bị kỷ luật, bị xãhội lên án, bị gia đình, vợ con ruồng bỏ xa lánh v.v…

Nạn nhân có thai là yếu tố bắt buộc để xácđịnh bị cáo phạm tội trong trường hợp này. Nhưng nếu nạn nhân không có thai mànói dối với bị cáo là đã có thai nhằm thúc ép bị cáo phải cưới mình và bị cáovì sợ trách nhiệm nên đã giết nạn nhân thì vẫn bị coi là phạm tội vì động cơ đêhèn.

d)Giết chủ nợ để trốn nợ.

Nhân dân ta có truyền thống đoàn kếtthương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Trong quan hệ vay mượn cũng là biểu hiệncủa tinh thần đó. khi gặp khó khăn, túng thiếu đã được người khác cưu mang giúpđỡ, lẽ ra phải biết ơn, ngược lại kẻ được cưu mang giúp đỡ lại giết người cưumang, giúp đỡ mình nhằm trốn nợ.

Bị cáo giết nạn nhân chủ yếu  nhằm trốn nợ, nhưng không phải cứ có vaymượn, nợ nần mà đã vội xác định người phạm tội giết người vì động cơ đê hèn, mà phải xác định việc vay mượn đó có xuấtphát từ tình cảm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau không? Nếu nạn nhân là người chovay lãi nặng, có tính chất bóc lột thì không thuộc trường hợp phạm tội vì độngcơ đê hèn.

đ)Giết người để cướp của.

Là trường hợp, người phạm tội  muốn chiếm đoạt tiền của do nạn nhân trựctiếp quản lý (chiếm hữu) nên đã giết họ. Tính chất đê hèn của trường hợp giếtngười này cũng là vì tiền.

Người phạm tội  giết người trong trường hợp này phải chịutrách nhiệm hình sự về hai tội: Tội giết người và tội cướp tài sản… Riêng tộigiết người người phạm tội  đã có hai tìnhtiết định khung tăng nặng đó là: “vì động cơ đê hèn và để thực hiện mộttội phạm khác”, người có hành vi giết người  để cướp của thường bị phạt với mức án cao nhưtù chung thân hoặc tử hình nếu họ đã đủ 18 tuổi trở lên.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử ít có Toà ánxác định người phạm tội  giết người đểcướp của là trường hợp “giết người vì động cơ đê hèn” mà chỉ coi là”giết người để thực hiện tội phạm khác” , vì như trên đã nêu người cóhành vi giết người  cướp của đã phạm mộtlúc hai tội nghiêm trọng và hình phạt đối với họ cũng rất nghiêm khắc, nên ítai bàn đến việc có cần phải áp dụng thêm tình tiết “giết người vì động cơđê hèn” hay không? Chính vì vậy mà không ít người cho rằng giết người đểcướp của không phải là vì động cơ đê hèn.

e)Giết người là ân nhân của mình.

Được coi là ân nhân của kẻ giết mình trongtrường hợp nạn nhân là người đã có công giúp đỡ người phạm tội  trong lúc khó khăn mà bản thân người phạmtội  không thể tự mình khức phục được.Việc giúp đỡ của nạn nhân đối với người phạm tội  lẽ ra y phải chịu ơn suốt đời, nhưng đã bộibạc phản trắc, đã giết người giúp mình, chứng tỏ sự hèn hạ cao độ.

Khi xác định nạn nhân có phải là ân nhâncủa người có hành vi giết người  haykhông  xét trong hoàn cảnh cụ thể; mối quanhệ phải rõ ràng, được dư luận xã hội thừa nhận và không trái pháp luật. Nếuhành vi trái pháp luật của nạn nhân làm cho kể giết người phải chịu ơn thìkhông coi là giết người là ân nhân của mình. Ví dụ: một giám thị đưa bài chothí sinh chép trong phòng thi, một cán bộ tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa rồiđem tài sản đó giúp người khác, một cán bộ quản giáo tha người trái pháp luật;một thẩm phán cố tình đưa ra một bản án trái pháp luật có lợi cho người phạmtội  v.v…

Ngoài các trường hợp đã nêu trên, thựctiễn xét xử còn có các trường hợp sau đây cũng nên coi là giết người vì động cơđê hèn. Đó là trường hợp người có hành vi giết người  không giết được người mình muốn giết mà giếtngười thân của họ mà những người này không hề có mâu thuẫn gì với người có hànhvi giết người , họ yếu đuối không có khả năng tự vệ như ông bà già, người bịbệnh nặng và các em nhỏ, họ là bố mẹ, vợ con của người mà người có hành vi giếtngười  định giết nhưng không giết được.Ví dụ: do làm ăn buôn bán với nhau nên A có thù tức với B. A tìm B để giếtnhưng không được, A liền đến nhà B chém chết mẹ của B mới đang bị ốm nằm trêngiường, mặc dù hành vi giết người này bị coi là có tình tiết tăng nặng”phạm tội đối với người ở trong tình trạng không tự vệ được ” ( điểmh khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự), nhưng chúng tôi cho rằng cần phải coitrường hợp này là giết người vì động cơ đê hèn và người có hành vi giếtngười  phải bị trừng trị theo khoản 1điều 93 Bộ luật hình sự.

Mười tám ( 18) trường hợp phạm tội giếtngười trên theo quy định, người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sựtheo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 nămtù, tù chung thân hoặc tử hình. Việc xử phạt ở mức độ nào là tuỳ thuộc vào tínhchất và mức độ nguy hiểm của từng trường hợp, đồng thời phải cân nhắc, đánh giánhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hìnhsự được quy định tại các Điều 46 và 48 Bộ luật hình sự. Thực tiễn xét xử chothấy có bị cáo giết người chỉ thuộc một trong mười lăm trường hợp quy định ởkhoản 1 Điều 93 nhưng vẫn có thể bị phạt tử hình. Trong khi đó có bị cáo giếtngười thuộc hai, ba trường hợp quy định ở khoản 1 Điều 93 nhưng chỉ bị xử phạtdưới 20 năm tù. Vì vậy, không nên căn cứ vào số lượng các trường hợp phạm tộimà phải căn cứ vào tính chất nguy hiểm của từng trường hợp để quyết định hìnhphạt đối với người phạm tội như Điều 3 và Điều 45 Bộ luật hình sự quy định.

Nếu giết người không thuộc một trong 18trường hợp nêu trên, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theokhoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm nămtù. Đây là trường hợp giết người thông thường, không có các tình tiết tăng nặngđịnh khung tăng nặng. Lẽ ra trường hợp phạm tội này phải là cấu thành cơ bản,nhưng do kỹ thuật và truyền thống lập pháp nên đối với tội giết người nhà làmluật xây dựng cấu thành tăng nặng trước, sau đó mới đến cấu thành cơ bản. Khôngnên coi khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự là cấu thành giảm nhẹ như trong một sốtội xâm phạm an ninh quốc gia. Bộ luật hình sự năm 1985 khi quy định về tộigiết người đã chia thành 4 trường hợp, trong đó có hai trường hợp giết ngườithuộc cấu thành giảm nhẹ, đó là “giết người trong tình trạng tinh thần bịkích động mạnh” (khoản 3 Điều 101) và “giết con mới đẻ” (khoản 4Điều 101). Nay Bộ luật hình sự năm 1999 không quy định hai trường hợp giếtngười này cùng chung với tội giết người nữa mà quy định thành hai tội riêng.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 93 Bộ luậthình sự thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghềhoặc làm công việc nhất  định từ một nămđến năm năm theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự, phạt quản chế hoặc cấmcư trú từ một năm đến năm năm theo quy định tại Điều 37, Điều 38