Bài Viết Mới

Tranh chấp về hợp đồng thuê nhà xưởng (Phúc thẩm)

ố hiệu241/2006/KDTM-PT
Tiêu đềTranh chấp về hợp đồng thuê nhà xưởng
Ngày ban hành21/11/2006
Cấp xét xửPhúc thẩm
Lĩnh vựcKinh tế

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI

——————

Bản án số:241/2006/KDTM-PT

Ngày 21/11/2006

V/v: tranh chấp về Hợp đồng thuê nhà xưởng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc
———————————-H.8

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Chương;

Các Thẩm phán: Ông Đào Văn Tiến;

Ông Cáp Văn Chinh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Trí Chung, cán bộ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Ngày 21 tháng 11 năm 2006, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số41/2006/TL-KDTM ngày 10 tháng 8 năm 2006 về việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng.

Do bản án dân sự sơ thẩm số43/2006/KDTM-ST ngày 24 tháng 5 năm 2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số5165/2006/KTTM-QĐ ngày 02 tháng 11 năm 2006 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Công ty điện máy, xe đạp, xe máy, trụ sở : 163 Đại La, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

* Người đại diện hợp pháp nguyên đơn: Ông Chu Mạnh Cường.

Bị đơn kháng cáo: Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh; Trụ sở: số 42 ngõ 67 phố Đức Giang, phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

* Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Long.

– Luật sư: Lê Văn Kiên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty điện máy, xe đạp, xe máy.

NHẬN THẤY

Ngày 01-8-2001, Công ty điện máy, xe máy, xa đạp (bên A) và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh (bên B) có ký hợp đồng thuê nhà xưởng với nội dung:

Bên A cho bên B thuê diện tích 2000 m2 đất trong đó có 01 nhà 02 tầng và 03 dãy nhà xưởng có phụ lục chi tiết bàn giao như sơ đồ, thực trạng mặt bằng cho thuê. Địa điểm cho thuê nhà số 42 ngõ 67 phố Đức Giang, Long Biên, Hà Nội.

Thời hạn thuê từ 01-9-2001 đền 30-8-2006.

Giá cho thuê là 14.000.000 đồng/tháng. Bên B thanh toán cho bên A 03 tháng một lần.

Sau khi thanh lý hợp đồng bên B phải giao lại cho bên A toàn bộ mặt bằng, tài sản của bên A và cả phần sửa chữa của bên B (được bên A cho phép).

Ngoài ra các bên còn thỏa thuận về trách nhiệm của các bên và chọn cơ quan tài phán.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh đã trả tiền thuê đến hết tháng 3-2004. Sau đó bị đơn không trả tiền thuê nhà nữa, mặc dù phía nguyên đơn đã có nhiều công văn nhắc nhở, bị đơn vẫn không thực hiện.

Do đó đến ngày 11-6-2004, nguyên đơn đã có công văn số71/ĐM-XĐXM thông báo cho bị đơn về việc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ diện tích nhà xưởng đang thuê. Đến ngày 24-8-2005 nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu:

– Bị đơn trả lại toàn bộ diện tích thuê.

– Hoàn trả số tiền thuê nhà còn thiếu là 308.000.000 đồng và lãi là 24.976.875 đồng.

Đại diện phía bị đơn xác nhận còn nợ nguyên đơn tiền thuê nhà tính đền tháng 12-2005 là 252.000.000 đồng, bị đơn hứa sẽ trả số tiền trên và xin được miễn lãi.

Tại bản án số43/2006/KDTM-ST ngày 24 tháng 5 năm 2006 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Căn cứ Điều 131, Điều 200, Điều 203, Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 494, Điều 495, Điều 498, Điểu 500 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Nghị định 70/CP ngày 12-6-1997 quy định về án phí.

Căn cứ Thông tư 01/TTLT của Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính –Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cáo.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu đơn phương hủy bỏ hợp đồng ngày 01-8-2001 giữa Công ty điện máy, xe đạp, xe máy và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh. Hợp đồng chấm dứt từ ngày 24-5-2006.

2. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh phải bàn giao toàn bộ nhà xưởng theo hợp đồng ngày 01-8-2001 và biên bản bàn giao ngày 29-8-2001 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh và Công ty điện máy, xe đạp, xe máy.

3. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh phải thanh toán cho Công ty điện máy, xe đạp, xe máy tiền thuê nhà xưởng từ tháng 7-2004 đến tháng 4-2006 là 308.000.000 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án thì bị đơn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy định cho số tiền còn phải thi hành án tương xứng với thời gian chưa thì hành cho đến khi thi hành án xong.

4. Bác đơn yêu cầu của Công ty điện máy, xe đạp, xe máy về yêu cầu tính lãi phạt quá hạn đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13 tháng 6 năm 2006, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Sau phần tranh luận và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cảu nguyên đơn, sau khi nghị án.

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận xét về vụ án.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Ngày 01-8-2001 Công ty điện máy, xe đạp, xe máy (bên A) và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh (bên B) có ký hợp đồng thuê nhà xưởng với nội dung:

Bên A cho bên B thuê 2000 m2 đất trong đó có 01 nhà 02 tầng và 03 dãy nhà xưởng tại địa điểm số 42 ngõ 67 phố Đức Giang, Long Biên, Hà Nội. Với thời hạn thuê từ 01-9-2001 đền 30-8-2006; giá cho thuê là 14.000.000 đồng/tháng.

Thời hạn thanh toán tiền thuê là 03 tháng một lần vào tháng thứ 2. Sau khi thanh lý hợp đồng thì bên B phải giao lại cho bên A toàn bộ mặt bằng, tài sản của bên A và cả những phần sửa chữa của bên B (được bên A cho phép). Ngoài ra còn có những thỏa thuận khác.

Quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên đã thực hiện đúng hợp đồng đến hết tháng 3-2004; sau đó bên B không trả tiền thuê nhà xưởng cho bên A nữa. Bên A đã có nhiều công văn nhắc nhở bên B thực hiện hợp đồng, nhưng bên B vẫn không thực hiện.

Ngày 11-6-2004 bên A có công văn thông báo số 71 cho bên B về việc hủy hợp đồng và yêu cầu bên B trả lại cho bên A toàn bộ diện tích nhà xưởng mà bên A đã cho bên B thuê vì bên B đã vi phạm hợp đồng.

Đến ngày 25-8-2005 bên A làm đơn khởi kiện yêu cầu bên B phải trả tiền đã thuê nhà xưởng cho bên A.

Khi xét xử sơ thẩm, đại diện hợp pháp cho Công ty Thùy Anh và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Thùy Anh vắng mặt tại Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận xét và căn cứ Điều 202, 203 Bộ luật tố tụng dân sự để vẫn tiến hành xét xử vắng mặt phía bị đơn và luật sư của phía bị đơn.

Sau khi nhận được kết quả việc xét xử sơ thẩm, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh làm đơn kháng cáo với nội dung Tòa án cấp sơ thẩm đã không bảo vệ quyền và lợi ích cho Công ty Thùy Anh vì vậy, đã kháng cáo toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm.

Xét thấy: Công ty điện máy, xe đạp, xe máy và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh có đầy đủ tư cách pháp nhân để ký kết các hợp đồng nói chung.

Cụ thể hợp đông hai bên đã ký kết ngày 01-8-2001 là hợp đồng thuê nhà xưởng giữa hai pháp nhân với nhau. Bên cho thuê được phép cho thuê nhà xưởng, theo đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh được cấp có thẩm quyền xác nhận cũng như trước khi ký kết hợp đồng cho thuê nhà xưởng, bên cho thuê đã báo cáo lên cơ quan chủ quản.

Về phần nhà xưởng và đất cho thuê thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên cho thuê từ năm 1957 thể hiện tại công văn ngày 02-4-1997 Công ty điện máy, xe đạp, xe máy đề nghị Ủy ban nhân dân thị trấn Đức Giang xác nhận với nội dung công ty được Bộ nội thương (nay là Bộ Thương mại) giao cho quyền quản lý 17.757 m2 khu kho đất từ năm 1957 theo đúng như trong bản đổ số 537 ngày 21-5-1996 do công ty đo đạc sở địa chính cấp; công ty đã làm bản kê khai sử dụng đất ngày 03-7-1996 nộp cho thành phố có xác nhận của chính quyền địa phương. Để chấp hành luật thuế đất đai, công ty xin làm thủ tục ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất cho khu vực này để làm cơ sở nộp tiền thuế đất cho Nhà nước và chủ động trong công tác kinh doanh (có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn Đức Giang ngày 08-4-1997).

Tại công văn số20/10-4-1997 Ủy ban nhân dân thị trấn Đức Giang xác nhận Công ty điện máy, xe đạp, xe máy có khu đất tại thị trấn Đức Giang, Gia Lâm, Hà Nội có tổng diện tích là 17.757 m2 theo đúng như bản đồ số 537 cấp ngày 21-5-1996 do Công ty đo đạc sở địa chính cấp. Khu đất này Công ty được cấp từ năm 1957.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ còn thể hiện Công ty điện máy, xe đạp, xe máy hàng năm nộp thuế đất cho Nhà nước đầy đủ.

Xét về nội dung của hợp đồng ngày 01-8-2001 thấy cả hai bên không có tranh chấp gì và đều công nhận bên thuê là Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh mới trả cho bên cho thuê là Công ty điện máy, xe đạp, xe máy tiền thuê nhà xưởng đến hết tháng 3-2004, còn lại chưa trả. Đến ngày 30-8-2005 Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh đã trả 42 triệu đồng tiền thuê nhà xưởng cho Công ty điện máy, xe đạp, xe máy cho tháng 4, 5, 6- 2004. Như vậy, phía Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh đã vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thành toán, đo đó Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích và chấp nhận yêu cầu đơn phương hủy bỏ hợp đồng ngày 01-8-2001 giữa Công ty điện máy, xe đạp, xe máy và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh cũng như buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh phải có trách nhiệm trả Công ty điện máy, xe đạp, xe máy 308 triệu đồng tiền thuê nhà xưởng (tính đến ngày 24-5-2006) và buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh phải bàn giao cho Công ty điện máy, xe đạp, xe máy toàn bộ nhà xưởng như hợp đồng ngày 01-8-2001 và biên bản bàn giao ngày 29-8-2001 đã được ký kết giữa hai công ty là có căn cứ và đúng pháp luật.

Kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đề nghị của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty điện máy, xe đạp, xe máy là có cơ sở và được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận (khoản đề nghị tình tiến thuê nhà đất đến khi xét xử phúc thẩm của luật sư không được chấp nhận).

Các quyết định khác của bản án kinh tế sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Từ nhận xét trên,

Căn cứ Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

QUYẾT ĐỊNH

Bác nội dung đơn kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh, giữ nguyên quyết định của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm như sau:

Áp dụng Điều 494, 495, 498, 500 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Nghị định 70/CP ngày 121-6-1997 của Chính phủ.

Xử:

– Chấp nhận yêu cầu đơn phương hủy bỏ hợp đồng ngày 01-8-2001 giữa Công ty điện máy, xe đạp, xe máy và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh. Hợp đồng chấm dứt từ ngày 24-5-2006.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh phải thanh toán cho Công ty điện máy, xe đạp, xe máy tiền thuê nhà xưởng là 308 triệu đồng.

Các quyết định khác của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Anh phải nộp 200.000 đồng án phí kinh tế phúc thẩm.

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu lãi xuất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với từng thời kỳ đối với số tiền còn phải thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

Cáp Văn Chinh Đào Văn Tiến

(Đã ký) (Đã ký)

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Chương

(Đã ký)