Xử lý hành vi cho vay nặng lãi theo quy định mới nhất

Xử lý hành vi cho vay nặng lãi theo quy định mới nhất

Yêu cầu tư vấn: Chào luật sư. Do nhu cầu về đầu tư kinh doanh, tháng 01/2019 tôi có vay của một bên cho vay nặng lãi khoản tiền 300 triệu với lãi suất 3%/tháng theo đó mỗi tháng tôi phải trả 9 triệu tiền lãi.

Sau đó đến tháng 09/2019 tôi đã trả cho họ được 08 tháng tiền lãi là 72 triệu đồng. Từ tháng 10/2019 trở đi tôi làm ăn sa sút nên không có tiền trả nợ. Đến nay là tháng 05/2020 họ đòi tôi 300 triệu tiền gốc và 08 tháng tiền lãi (72 triệu) là 372 triệu đồng. Tôi không trả họ dọa nạt và đòi kiện tôi ra tòa. Tôi muốn hỏi họ cho vay nặng lãi như vậy có vi phạm pháp luật hay không và nếu vi phạm thì bị xử lý như thế nào. Cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Đầu tiên cảm ơn bạn đã quan tâm và tin tưởng Luật Phamlaw, về vấn đề này luật sư Luật Phamlaw tư vấn như sau:

Giao dịch của bạn và bên cho vay nặng lãi kia là một quan hệ dân sự và được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về mức trần lãi suất, mức tối đa lãi suất mà các bên được quyền thỏa thuận là 20%/năm. Theo đó các bên được phép thỏa thuận mức lãi suất nhưng không được vượt quá mức 20%/năm, nếu các bên thỏa thuận mức lãi suất lớn hơn 20%/năm thì phần thỏa thuận vượt quá sẽ không có hiệu lực.

Theo những gì bạn cung cấp, mức lãi suất mà bạn và bên cho vay nặng lãi thỏa thuận là 3%/tháng theo đó là 36%/năm lớn hơn 20%/năm nên phần vượt quá là 16%/năm không có hiệu lực. Cụ thể quy định pháp luật như sau:

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ.

Về hành vi cho vay nặng lãi, người cho vay nặng lãi có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự cụ thể nếu thuộc Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo đó việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm khi thỏa mãn hai dấu hiệu:

Một, khi lãi suất cho vay gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, tức là lãi suất từ 100%/năm trở lên thì việc cho vay đã có dấu hiệu hình sự.

Hai, ngoài điều kiện về lãi suất, hành vi phạm tội trên còn phải có đủ một trong các điều kiện sau: Một là, thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; hai là, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này nhưng trong thời hạn là mười hai tháng; ba là, đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Phần thu lợi bất chính được hiểu là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Cụ thể được giải thích tại Công văn số 212/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao).

Theo đó dựa trên những gì bạn cung cấp, bên cho vay nặng lãi áp dụng mức lãi suất 3%/tháng là 36%/năm dù vượt quá mức lãi suất trần mà Nhà nước quy định nhưng không đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự (100%/năm).

Nếu họ khởi kiện bạn ra Tòa thì phần lãi suất mà vượt quá 20%/năm sẽ không được Tòa án chấp nhận và Tòa án sẽ áp dụng theo mức lãi suất nhà nước quy đinh.

Căn cứ pháp lý về Xử lý hành vi cho vay nặng lãi theo quy định mới nhất

Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xem thêm: Quy định về lãi suất chậm trả theo Bộ Luật Dân sự 2015

——————–

Tổng đài tư vấn pháp luật chuyên sâu – Phamlaw