Câu hỏi mới

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý tiêu biểu

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý Yên Tử cho sản phẩm hoa mai vàng

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý Yên Tử cho sản phẩm hoa mai vàng

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý Yên Tử cho sản phẩm hoa mai vàng
Ngày 18 tháng 12 năm 2013, Cục Sở hữu trí tuệ đã ban hành Quyết định số 3463/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00040 cho sản phẩm hoa mai vàng Yên Tử nổi tiếng. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh là cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý này.

Địa hình núi Yên Tử quan sát ở chùa Đồng

Yên Tử là tên một ngọn núi nằm trong dãy núi Đông Triều, là đỉnh cao nhất trong các ngọn núi ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Nơi đây là vùng đất tâm linh, là “cái nôi” hình thành nên thiền phái Trúc Lâm. Trên chốn non thiêng Yên Tử lạnh giá này, ở độ cao đến 1.000 mét so với mực nước biển, cây mai được phát hiện như một khám phá đầy bí ẩn. Truyền thuyết kể rằng, khi Đức Phật Trần Nhân Tông rời kinh kỳ về đây, Ngài đã cùng các đệ tử trồng những cây mai đầu tiên. Đến nay, ở Yên Tử đã có những cây mai hơn 700 tuổi, được gọi với cái tên đầy trân trọng: Đại lão mai vàng Yên Tử.

  

Mai vàng Yên Tử thuộc loài Ochana Intergérrima (Lour.) Merr., chi mai, họ lão mai. Thân cây màu xám, có nhiều đốm trắng mờ, vỏ thân nhẵn, không sần sùi, ít vết nứt, hốc lõm và không có u bướu. Cành cây mọc cách, chi dăm mọc dày. Lá non có màu xanh nõn, hình bầu dục, thuôn dài, mép có răng cưa và gân mờ. Lá trưởng thành có phiến lá hình bầu dục, kích thước lớn, dài, dày, màu xanh lá cây đậm. Mép có răng cưa, gân nổi rõ. Mầm hoa ngắn hơn mầm lá, tròn và nhọn đầu, gần giống với hình thoi. Mầm hoa khi chưa bung có vỏ lụa màu nâu vàng, mọc ở nách lá. Nụ hoa có màu xanh lá cây đậm, hình bầu dục, bóng. Hoa có 5 cánh, màu vàng chanh tươi, cánh hoa hình rẻ quạt, mỏng. Viền cánh hoa lượn sóng và xếp thưa, tách rời nhau. Mai vàng Yên Tử có mùi thơm dịu, không hắc. Đài hoa có màu xanh cốm, có 5 lá đài hình bầu dục, thon dài. Sau khi hoa rụng hết, các đài hoa chuyển từ màu xanh sang màu đỏ. Nhị hoa có màu vàng chanh, phần đầu chỉ nhị màu vàng đất. Số lượng nhị không đều giữa các hoa. Nhụy hoa màu xanh non, hình ống. Quả mai vàng Yên Tử bao gồm 7-10 quả đơn, được sắp xếp thành một vòng tròn trên đế quả. Các quả đơn không có cuống, xếp quanh đế hoa, khi chưa chín có màu xanh, khi chín có màu đen, vỏ quả bóng, căng và mọng. Quả đơn có hình bầu dục, một đầu to, một đầu nhỏ. Mỗi quả đơn có một hạt. Hạt có vỏ nhăn nheo.

hoa mai vàng trồng tại vườn của người dân  nụ hoa mai vàng cây 3 năm tuổi

nụ hoa mai vàng trồng tại vườn của người dân  nụ hoa mai vàng cây 3 năm tuổi trồng tại đường lên chùa Hoa Yên

Ảnh nụ hoa mai vàng trồng tại vườn của người dân
Ảnh nụ hoa mai vàng cây 3 năm tuổi trồng tại đường lên chùa Hoa Yên

Vẻ đẹp và giá trị của mai vàng Yên Tử là sự hội tụ tinh hoa của vùng đất linh thiêng, nơi có đầy đủ “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để làm nên sự đặc biệt của sản phẩm này. Khu vực địa lý bao gồm xã Thượng Yên Công, phường Phương Đông, phường Vàng Danh, phường Bắc Sơn, phường Quang Trung, phường Thanh Sơn thuộc thành phố Uông Bí; xã Tràng Lương, xã Bình Khê thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Khu vực địa lý có địa hình từ núi đá đến các khu vực đất đồi ven núi, độ cao 300-800m so với mực nước biển, độ dốc trên 150, là địa hình thích hợp cho sự phát triển của cây mai. Khí hậu của khu vực địa lý rất đặc trưng nhờ sự kết hợp giữa khí hậu miền núi cao và khí hậu của miền duyên hải, nóng ẩm, mưa nhiều vào mùa hè và hanh khô kéo dài vào mùa đông, với nhiệt độ trung bình năm là 23-240C, nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 đến tháng 2) trung bình 150C. Từ tháng 12 đến tháng 03 dương lịch (thời kỳ cây rụng lá, ra mầm, ra nụ và nở hoa): biên độ nhiệt ngày đêm cao (15-200C). Tổng số giờ nắng trung bình từ 1.100 giờ/năm – 1.600 giờ/năm. Tổng lượng mưa trung bình năm là 1600-1800mm. Lượng mưa trong năm tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9 (chiếm 85-87% tổng lượng mưa cả năm). Các tháng còn lại lượng mưa rất thấp. Khu vực địa lý có hai hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam thổi vào mùa hè và gió Đông Bắc thổi vào mùa đông. Tốc độ gió ổn định, trung bình 1-2m/s, không có biến động lớn qua các năm. Gió ôn hòa, khu vực ít chịu ảnh hưởng của gió bão. Độ ẩm không khí trung bình năm là 80 – 82%. Từ tháng 11, 12 đến tháng 3, tháng 4 (thời kỳ cây rụng lá, ra nụ và nở hoa), khu vực địa lý có sương mù che phủ, độ ẩm trung bình thấp do lượng mưa ít và lượng bốc hơi cao. Khu vực địa lý cũng là nơi có nhiều đầu nguồn của các hệ suối chính như hệ suối Vàng Tân, Giải Oan, Bãi Dâu, suối Tắm. Chiều dài các suối từ 6-8km trong điều kiện địa hình cao, dốc, chia cắt mạnh. Lưu lượng nước và cường độ dòng chảy lớn, nguồn nước dồi dào. Đất ở khu vực địa lý có hàm lượng mùn trên mặt cao, đạm tổng số của tầng mặt đạt mức trung bình đến giàu, lân tổng số đạt mức trung bình tới giàu, Kali tổng số đạt mức trung bình đến khá, Kali dễ tiêu đạt mức trung bình đến giàu.

Ngoài các yếu tố tự nhiên thì các bí quyết trong việc nhân giống, chăm sóc cây cùng với thái độ nâng niu trân trọng sản phẩm của người dân tại khu vực địa lý đã tạo nên giá trị đặc biệt của mai vàng Yên Tử.

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “MÈO VẠC” cho sản phẩm mật ong bạc hà
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “MÈO VẠC” cho sản phẩm mật ong bạc hà
Ngày 01 tháng 3 năm 2013, Cục Sở hữu trí tuệ đã ban hành Quyết định số 316/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00035 cho sản phẩm mật ong bạc hà Mèo Vạc nổi tiếng.Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hà Giang là cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý này.Việc sản xuất mật ong gắn liền với cây nguồn mật được phân bố theo những vùng địa lý nhất định. Sở dĩ sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có tên gọi là mật ong bạc hà do được sản xuất từ cây nguồn mật bạc hà dại có nguồn gốc duy nhất tại Cao nguyên đá Đồng Văn.Các nước xuất khẩu mật ong lớn trên thế giới cũng không có loại mật ong bạc hà, ngoại trừ Trung Quốc – khu vực giáp ranh với cao nguyên đá Đồng Văn. Mật ong Mèo Vạc có nguồn gốc thực vật hoa bạc hà quý hiếm, không những có lợi cho sức khỏe mà còn có nhiều đặc tính biệt dược quý. Sản phẩm gắn liền với đời sống của người Mông và các hoạt động văn hóa du lịch tại Cao nguyên đá Đồng Văn – công viên địa chất toàn cầu do UNESCO công nhận.Mật ong bạc hà Mèo Vạc có màu sắc từ vàng đỏ đến vàng chanh, không bị biến đổi màu theo thời gian. Vị ngọt mát và dịu, không khé. Sản phẩm tồn tại dưới dạng lỏng hoặc kết tinh nếu bảo quản lâu ngày. Tỷ lệ hạt phấn bạc hà trong mật ong Mèo Vạc là từ 0,338% đến 0,381% tương ứng với màu sắc từ vàng đỏ – vàng chanh nhạt đến vàng chanh – vàng chanh đậm.

Sản phẩm có các chỉ tiêu chất lượng như: hàm lượng nước dưới 21%, hàm lượng Fructoza dưới 65g/100g mật, hàm lượng Glucoza dưới 65g/100g mật, hàm lượng Sacoraza dưới 5mg/100g mật, hàm lượng HMF (Hydroxymethylfurfuran) 40-60mg/kg mật, hàm lượng chất không tan: dưới 0,1g/100g mật.

Mật ông Bạc Hà dạng dung dịch lỏng
Mật ông Bạc Hà dạng dung dịch lỏng

Mật ông Bạc Hà dạng kết tinh
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý Mật ông Bạc Hà dạng kết tinh

Khu vực địa lý là nơi có các điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây nguồn mật bạc hà dại, bao gồm các xã Tả Lủng, xã Sủng Trà, xã Sủng Máng, xã Lũng Chinh, xã Lũng Pù, xã Cán Chu Phìn, xã Giàng Chu Phìn, thị trấn Mèo Vạc, xã Pả Vi, xã Thượng Phùng, xã Pải Lủng, xã Xín Cái, xã Sơn Vỹ thuộc huyện Mèo Vạc; xã Lũng Cú, xã Má Lé, xã Lũng Táo, xã Đồng Văn, xã Sà Phìn, xã Sủng Là, xã Phố Bảng, xã Phố Là, xã Phố Cáo, xã Lũng Thầu, xã Vần Chải, xã Thài Phìn Tủng, xã Tả Phìn, xã Tả Lủng, xã Sinh Lủng, xã Sảng Tủng, xã Lũng Phìn, xã Hồ Quáng Phìn, xã Sủng Trái thuộc huyện Đồng Văn; xã Hữu Vinh, xã Sủng Thài, xã Đường Thượng, xã Sủng Tráng, xã Lao Và Chải, xã Thắng Mố thuộc huyện Yên Minh; xã Tùng Vài, xã Thanh Vân, xã Tam Sơn, xã Cán Tỷ, xã Quyết Tiến, xã Đông Hà, xã Thái An, xã Lùng Tám, xã Quản Bạ thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Đây là khu vực gắn liền với cao nguyên đá Đồng Văn, có nhiều núi đá vôi nằm sát chí tuyến Bắc, có độ dốc rất lớn, địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đá, thung lũng sông suối… Độ cao trung bình của khu vực địa lý từ 1.000m đến 1.600m, là nơi phân bố của cây nguồn mật bạc hà dại. Về thổ nhưỡng, khu vực này có loại đất núi đá, tầng mặt có kết cấu tơi xốp và thoát nước tốt, đất nghèo chất hữu cơ và ẩm, phù hợp với đặc điểm sinh vật học của cây nguồn mật bạc hà. Về khí hậu, nơi đây có lượng mưa từ tháng Năm đến tháng Mười từ 1200mm đến 1600mm thích hợp với thời gian sinh trưởng của cây nguồn mật bạc hà mọc từ tháng Bảy và bắt đầu ra hoa từ tháng Mười.

Những điều kiện tự nhiên nói trên đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển của cây nguồn mật bạc hà là yếu tố tiên quyết để có được sản phẩm mật ong bạc hà Mèo Vạc. Ngoài ra, do tính chất đặc thù của nghề nuôi ong tại Cao nguyên đá Đồng Văn có tính chất thời vụ, do đó Quy trình kỹ thuật nuôi ong lấy mật được xây dựng dựa trên nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các kiến thức bản địa nuôi ong tại Cao nguyên đá Đồng Văn và các kỹ thuật nuôi ong tiên tiến đang áp dụng tại Việt Nam cũng góp phần đảm bảo duy trì tính ổn định về chất lượng của sản phẩm mật ong bạc hà Mèo Vạc. Quy trình này có các quy định chính, khác với các quy trình nuôi ong khác như: chỉ sử dụng giống ong Nội (Apris ceranna), hay còn gọi là ong châu Á; các biện pháp phòng chống bệnh cho ong tuyệt đối không dùng thuốc kháng sinh và để đảm bảo tỷ lệ thủy phần đã được quy định, việc quay mật không dựa trên tần suất quay thông thường mà phải căn cứ vào độ vít nắp của cầu mật (từ 95%).

Với tính chất quý hiếm và đặc trưng nói trên cùng với việc gắn liền với vùng đất cao nguyên đá Đồng Văn nổi tiếng, có thể nói mật ong bạc hà Mèo Vạc không chỉ là niềm tự hào của riêng tỉnh Hà Giang mà còn là một trong những sản phẩm chỉ dẫn địa lý tiêu biểu của Việt Nam.

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Bình Minh” cho bưởi Năm roi

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Bình Minh” cho bưởi Năm roiBảo hộ chỉ dẫn địa lý “Bình Minh” cho bưởi Năm roi. Ngày 29.8.2013 Cục Sở hữu trí tuệ đã ra Quyết định số 2064/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00036 cho sản phẩm bưởi Năm Roi “Bình Minh”.Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long là Cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý “Bình Minh” cho sản phẩm bưởi Năm Roi.

Bưởi Năm Roi có tên khoa học là Citrus Grandis (hoặc C. Decumana), là loại cây ăn trái ngon nổi tiếng bấy lâu và đặc sản thế mạnh có tiềm năng xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Long. Năm 1969, trong kỳ hội chợ triển lãm của Miền Nam bưởi Năm Roi của chú Mười Tước được tặng huy chương vàng. Hai mươi bảy năm sau bưởi Năm Roi vẫn dành được giải nhất, đây là tấm huy chương vàng đầu tiên dành cho đặc sản cây trái miền Tây Nam Bộ nên từ đó danh tiếng bưởi Năm Roi được nhiều người biết đến. Năm 1988, Hội chợ triển lãm toàn quốc tặng thưởng thêm một huy chương vàng cho bưởi Năm Roi trong niềm tự hào của nhân dân huyện Bình Minh.
Bưởi Năm Roi “Bình Minh” có được danh tiếng như vậy là nhờ có các chất lượng đặc thù, khác biệt hẳn so với các loại bưởi khác.

Về mặt cảm quan: Bưởi Năm Roi có hình quả lê, núm thấp, khi chín màu xanh vàng đến vàng, vỏ mỏng, dễ bóc. Trọng lượng trung bình của bưởi từ 1kg-1,4 kg, ruột đặc, tỷ lệ ăn được là 55-60%, múi đều, dễ tách, có mùi thơm đậm đà, và đặc biệt là rất ít hạt hoặc không có hạt. Đây là một đặc điểm khác biệt nổi bật giữa bưởi Năm Roi trồng tại Bình Minh và bưởi Năm Roi trồng tại các vùng khác.
Về mặt chất lượng: Bưởi Năm Roi Bình Minh có vị ngọt thanh, hơi chua nhẹ, không đắng, không the. Hàm lượng nước trung bình 89% (cao nhất 90,41%, thấp nhất 88,13%), hàm lượng chất khô trung bình 10,58% (cao nhất 11,87%, thấp nhất 9,59%), hàm lượng đường tổng số trung bình 6,88% (cao nhất 7,91%, thấp nhất 5,8 %), hàm lượng chất rắn (độ Brix) trung bình 10,23% (cao nhất 10,82%, thấp nhất 9,67%), hàm lượng a xít trung bình 0,48% (cao nhất 0,63%, thấp nhất 0,32%), hàm lượng vitamin C trung bình 55,54 mg/100g (cao nhất 67,86 mg, thấp nhất 49,16 mg).
Danh tiếng, tính chất và chất lượng đặc thù của bưởi Năm Roi Bình Minh có được là do điều kiện thổ nhưỡng rất phù hợp với điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây bưởi, đặc biệt là bưởi Năm Roi. Vùng trồng bưởi Năm Roi Bình Minh là vùng đất nằm ở khu vực ven ba sông lớn là sông Hậu, sông Trà Von và sông Măng Thít tạo thành một kiểu vi khí hậu đặc trưng nên có những ưu đãi về mặt tự nhiên giúp cho vùng đất này màu mỡ, giàu phù sa bồi đắp và tưới tiêu đầy đủ quanh năm góp phần tạo nên chất lượng bưởi ngon và ổn định. Bên cạnh đó khí hậu ở huyện Bình Minh cũng phù hợp với các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây bưởi. Nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối cao, nhiệt độ tối thấp, biên độ giữa các tháng trong năm, lượng mưa trung bình cả năm cũng rất phù hợp với chu trình phát triển của cây bưởi, đặc biệt những tháng mưa nhiều tương ứng với giai đoạn tích lũy đường, vitamin C và nước quả nên cây cần nhiều nước, những tháng mưa ít lại rơi vào giai đoạn ra hoa và giai đoạn thu hoạch quả, lúc này cây cần ít nước để kích thích hoa nở và giữ được hàm lượng tối đa các dưỡng chất trong quả bưởi.
Ngoài các đặc thù về điều kiện tự nhiên, tính chất, chất lượng đặc thù của bưởi Năm Roi có được còn do kỹ thuật canh tác, tập quán trồng bưởi với mức độ chuyên canh cao của người dân vùng này từ việc chọn giống, chọn thời điểm trồng, chăm sóc, xử lý ra hoa, thu hoạch…đã tạo nên danh tiếng và chất lượng bưởi Năm Roi Bình Minh như vậy.
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho bưởi Năm roi
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho bưởi Năm roi
Nguồn: Phòng Chỉ dẫn địa lý Cục SởHữu Trí Tuệ