Câu hỏi mới

Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam

Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam

Câu hỏi: Kính chào Quý luật sư, doanh nghiệp tôi đang có dự định chào bán chứng khoán ra công chúng. Tuy nhiên doanh nghiệp tôi chưa biết để thực hiện hoạt động này thì doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện gì theo quy định của pháp luật. Kính mong Quý luật sư tư vấn giúp chúng tôi.

Doanh nghiệp tôi xin chân thành cảm ơn!

(Câu hỏi được biên tập từ mail gửi đến Bộ phận tư vấn pháp luật chuyên sâu của Phamlaw)

Trả lời: (Câu trả lời chỉ mang tính chất tham khảo)

Kính chào Quý khách, cảm ơn Quý khách đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến cho Bộ phận tư vấn pháp luật chuyên sâu của Phamlaw. Về thắc mắc của Quý khách, chúng tôi xin được đưa ra ý kiến tư vấn qua bài viết dưới đây:

Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam
Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam

Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam

Chào bán chứng khoán ra công chúng là giao dịch quan trọng của công ty và sẽ làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý đáng kể về hành chính, dân sự và hình sự khi công ty có hành vi vi phạm. Luật chứng khoán 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành có các quy định chặt chẽ về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng của doanh nghiệp, bao gồm cả hai loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Các quy định về pháp luật hiện nay về chứng khoán tập trung điều chỉnh giao dịch chào bán cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng.

*Điều kiện chào bán cổ phiếu

Tại khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán 2006 quy định:

“1. Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:

a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;

c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.”

Căn cứ vào quy định trên, các điều kiện áp dụng đối với giao dịch chào bán cổ phiếu ra công chúng tập trung vào các điều kiện về quy mô vốn, tình hình tài chính, chấp thuận nội bộ và yêu cầu niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán sau khi phát hành.

Thứ nhất, về quy mô vốn của công ty phát hành: Công ty phát hành phải phát triển ở một mức độ nhất định về vốn mới được phép phát hành cổ phiếu ra công chúng. Luật chứng khoán 2006 quy định công ty phát hành có vốn điều lệ đã góp ít nhất là 10 tỷ đồng tại thời điểm đăng ký chào bán cổ phiếu với Ủy ban chứng khoán nhà nước.

Thứ hai, về tình hình tài chính của công ty phát hành: Công ty phát hành phải đạt đủ điều kiện về tài chính để hoạt động và có khả năng sinh lời cho cổ đông. Điều này được minh chứng qua việc công ty phát hành phải có lãi trong năm liền trước năm đăng ký chào bán và không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán.

Thứ ba, về sự chấp thuận của cơ quan đăng ký nội bộ: Công ty phát hành phải có phương án rõ ràng cho việc phát hành cổ phiếu, bên cạnh đó việc sử dụng nguồn vốn thu được và phương án này cần được chấp thuận của đại hội đồng cổ đông với tư cách là cơ quan quản lý nội bộ của công ty phát hành.

Thứ tư, điều kiện về niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong vòng 01 năm. Một đặc điểm của giao dịch chào bán cổ phiếu ra công chúng là việc chào bán không nhất thiết phải xảy ra đồng thời với việc niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán. Quy định của Luật Chứng khoán 2006 yêu cầu cổ phiếu chào bán ra công chúng của công ty đại chúng phải được niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong vòng 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán.

*Điều kiện chào bán trái phiếu

So sánh các điều kiện về chào bán cổ phiếu ra công chúng và chào bán trái phiếu  ra công chúng thì có sự khác biệt nhất định và có thể nói giao dịch chào bán trái phiếu ra công chúng phải đáp ứng điều kiện nhiều hơn. Tương tự với điều kiện chào bán cổ phiếu, chào bán trái phiếu cũng cần đáp ứng bốn điều kiện là quy mô vốn, tình hình tài chính, chấp thuận nội bộ của công ty phát hành và yêu cầu niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong vòng 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán.

Đặc biệt đối với yêu cầu niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong vòng 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán, ở thời điểm hiện tại thì chỉ có một số loại trái phiếu nhất định do công ty đại chúng phát hành cần được niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường  chứng khoán trong vòng 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán. Trái phiếu thường không chuyển đổi, không kèm theo chứng quyền, không bảo đảm và không “được phát hành làm nhiều đợt” không cần được niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong vòng 01 năm từ ngày kết thúc đợt chào bán.

Khoản 2 Điều 12 Luật chứng khoán 2006 quy định:

“2. Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bao gồm:

a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;

c) Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;

d) Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác.”

Theo đó có hai điều kiện bổ sung áp dụng đối với giao dịch chào bán trái phiếu chứng khoán và hai điều kiện này không áp dụng cho giao dịch chào bán cổ phiếu ra công chúng:

Thứ nhất, về điều kiện không có khoản nợ quá hạn trên 01 năm: Đây là điều kiện để đảm bảo công ty phát hành trái phiếu ra công chúng có đủ khả năng trả nợ cho các nhà đầu tư trái phiếu và điều kiện này có phạm vi áp dụng rất rộng. Nợ quá hạn có thể bao gồm nợ ngân hàng, các nhà cung cấp và bên thứ ba khác, là các khoản nợ được ghi nhận trong báo cáo tài chính của công ty phát hành.

Thứ hai, về điều kiện cam kết thực hiện nghĩa vụ của công ty phát hành: Quyền của chủ sở hữu trái phiếu không được quy định trong điều lệ và quy định hạn chế trong Luật doanh nghiệp 2014. Chính vì vậy quyền của chủ sở hữu trái phiếu cần được quy định trong các hợp đồng và thỏa thuận giữa công ty phát hành trái phiếu và chủ sở hữu trái phiếu.

Trên đây là bài viết tư vấn về thắc mắc của Quý khách liên quan đến “Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam”. Nếu Quý khách còn có vướng mắc hay muốn biết thêm thông tin về các thủ tục hành chính như thành lập doanh nghiệp, thay đổi thông tịn đăng ký kinh doanh, giải thể doanh nghiệp,… xin vui lòng liên hệ với Tổng đài Bộ phận tư vấn pháp luật và thủ tục hành chính của Phamlaw, số hotline 1900. Để sử dụng dịch vụ, Quý khách vui lòng kết nối tới Số hotline: 0973938866, chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ.

xem thêm: